Helenkhanhvy's Blog

Just another WordPress.com weblog

BÀI THUỐC NHẤT DẠ LỤC GIAO SINH NGỦ TỬ

Thành phần bài thuốc gồm:

– Thục địa 40g,
– Đào nhân 40g,
– Sa sâm 30g,
– Bạch truật 24g,
– Đương quy 24g,
– Phòng phong 24g,
– Bạch thược 24g,
– Trần bì 24g,
– Xuyên khung 24g,
– Cam thảo 24g,
– Phục linh 24g,
– Tần giao 16g,
– Tục đoạn 16g,
– Mộc hoa 16g,
– Kỷ tử 16g,
– Thương truật 16g,
– Độc hoạt 16g,
– Khương hoạt 16g,
– Bắc đỗ trọng 16g,
– Đại hồi 12g,
– Nhục quế 12g,
– Đại táo 30g,
– Đường phèn 3 lạng

Tác dụng điều trị:
Bổ thận, bổ thần kinh, khí huyết lưu hóa, yếu thận, bán thân bất toại

Cách sử dụng:
Tất cả các vị thuốc trên được ngâm trong rượu nếp ngon, loại 40o trở lên, uống mỗi ngày 3 – 4 lần, mỗi lần 30ml.

Tháng Tư 29, 2010 Posted by | Thực phẩm và Bài thuốc nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HIỂM HỌA TỪ VIRUT VIÊM GAN B

Trên thế giới có khoảng 1/3 dân số tức là trên 2 tỷ người bị nhiễm virut viêm gan B và khoảng 350 triệu người trong số họ trở thành mang virut mạn tính. Nếu trẻ em nhiễm virut viêm gan B do lây truyền từ mẹ thì 98% những trẻ em này sẽ mang virut suốt đời và 40% trong số này có nguy cơ sẽ chết vì bệnh xơ gan và ung thư gan. Vì thế tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ ngay sau khi sinh là một biện pháp phòng bệnh tốt nhất.

Đường lây truyền của virut viêm gan B

– Lây truyền qua đường máu: hay gặp do truyền máu và chế phẩm của máu có nhiễm virut viêm gan B, dùng kim tiêm chung mà chưa được khử trùng theo đúng tiêu chuẩn.

– Lây truyền qua quan hệ tình dục.

– Truyền từ mẹ sang con: Virut được truyền từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ mà không phải trong thời kỳ mang thai. Nếu trong cơ thể mẹ có virut viêm gan B thì khả năng lây truyền từ mẹ sang con ngay sau khi lọt lòng là 50-90% tùy theo nồng độ virut trong huyết thanh của mẹ cao hay thấp và người mẹ có HBeAg dương tính hay âm tính. Đây là con đường lây truyền nguy hiểm cần phải phòng tránh.

Diễn biến khi bị virut xâm nhập

Sau khi nhiễm virut viêm gan B phần lớn người bệnh không có biểu hiện của bệnh chỉ có một số ít người có biểu hiện viêm gan virut B cấp tính đó là: mệt mỏi, chán ăn, sợ mùi thức ăn, đặc biệt là thức ăn có nhiều chất béo và nhiều chất đạm đạm (trứng, thịt, cá), đau mỏi toàn thân, đi tiểu nước tiểu sẫm màu như nước trà đặc hoặc nước vối, tiếp sau đó da và củng mạc mắt vàng tăng dần. Sau 1-2 tháng diễn biến bệnh nhân dần hồi phục. Tuy nhiên trong giai đoạn viêm gan cấp có một tỷ lệ rất ít bệnh nhân có thể viêm gan nặng và suy gan dẫn tới tử vong.

Khoảng 10% số người lớn sau khi bị viêm gan virut B cấp tính sau 6 tháng vẫn chưa sạch virut mà chuyển sang giai đoạn mạn tính. Trong trường hợp điển hình viêm gan virut B mạn tính bệnh nhân có từng đợt mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, đau vùng gan, có thể có vàng da, khi đi khám bệnh thường được phát hiện có gan to, chắc. Thật không may mắn cho người bệnh, ở giai đoạn mạn tính hầu như không có biểu hiện các triệu chứng mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.

Cách xác định có bị nhiễm virut viêm gan B hay không

Muốn biết mình có nhiễm virut viêm gan B chỉ cần xét nghiệm HBsAg trong máu. Nếu kết quả cho thấy có dương tính với HBsAg tức là mình đã bị nhiễm virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà có dương tính với Anti-HBs có nghĩa là mình đã có nhiễm virut viêm gan B nhưng đã khỏi và hiện tại đã có miễn dịch với virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs thì trường hợp này cần phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virut viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh.

Sau khi có viêm gan virut B cấp tính nếu sau 6 tháng mà xét nghiệm HBsAg vẫn dương tính tức là người đó đã chuyển sang giai đoạn mạn tính.

Điều trị viêm gan virut B

Phần lớn viêm gan virut B cấp tính không cần dùng thuốc đặc hiệu để điều trị virut vì 90% số trường hợp mắc bệnh ở người lớn hoặc trẻ em lớn bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Trong giai đoạn cấp tính người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi đảm bảo dinh dưỡng tốt bệnh sẽ dần hồi phục. Theo khuyến cáo của Hội Gan mật Hoa Kỳ (American Association for the Study of Liver Diease -AASLD) viêm gan virut B mạn tính chỉ điều trị khi men gan ALT (Alanine aminotranferase) tăng cao trên 2 lần trở lên so với bình thường. Trên thế giới ngày nay ALT đối với người khỏe mạnh bình thường < 30 IU/ml đối với nam giới và < 19 IU/ml đối với nữ giới. Trong trường hợp ALT cao ít hơn hoặc không cao mà khi sinh thiết gan cho thấy có viêm hoại tử nhiều hoặc xơ nhiều thì cũng có chỉ định điều trị.

Các thuốc điều trị viêm gan: có hai nhóm thuốc đó là các thuốc uống có nguồn gốc nucleoside và thuốc tiêm là các interferon. Các thuốc nucleoside bao gồm: lamivudine, adefovir, telbuvidine, entecavir, tenofovir. Những thuốc này dễ sử dụng nhưng phải dùng thuốc kéo dài. Các thuốc interferon dạng thuốc tiêm này ít có hiệu quả đối với người Việt Nam bị viêm gan virut B mạn tính bởi vì nhóm thuốc này có tác dụng tốt với viêm gan virut B mạn tính do genotype A mà người Việt Nam chủ yếu là genotype B và C gây ra.

Phòng ngừa bệnh và biến chứng

Đối với người chưa có miễn dịch với virut viêm gan B cần tiêm phòng.

Đối với trẻ em sinh ra từ mẹ mà xét nghiệm có HBsAg dương tính cần được dùng globulin miễn dịch và tiêm phòng vaccin trong vòng 12 giờ ngay sau khi sinh sẽ giúp giảm 95% khả năng lây truyền từ mẹ sang con.

Đối với những người viêm gan virut B mạn tính mà chưa có chỉ định điều trị cần theo dõi thường xuyên cứ 3-6 tháng một lần bằng xét nghiệm ALT trong máu và siêu âm gan.

Không dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virut viêm gan B.

Trước khi kết hôn cần thử HBsAg nếu vợ hoặc chồng có nhiễm virut viêm gan B mà người kia chưa có miễn dịch cần tiêm phòng trước khi kết hôn.

Tháng Tư 29, 2010 Posted by | Sức khỏe | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG BỨC ẢNH ĐẸP

Tháng Tư 22, 2010 Posted by | Bạc Liêu xưa và nay | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA ÔNG

CHÙA QUAN THÁNH – CHÙA QUAN ĐẾ

Chùa tọa lạc tại phường 2, TXBL. Được xây dựng năm 1835, theo kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Quan Thánh cổ miếu thờ Quan thánh Đế Quân, tức Quan Vân Trường thời Tam Quốc nên người địa phương thường gọi một cách tôn kính là Chùa Ông. Trong chánh điện có Quan Công, Quan Bình và Châu Xương mặc giáp trụ uy nghi. Người Hoa thờ Ông tượng trưng cho tinh thần “trung, hiếu, tín, nghĩa”. Người Hoa thường đến chùa Ông cầu xin Ông phù hộ phước lộc, bình an, may mắn. Hiện nay, chùa còn giữ rất nhiều hoành phi, câu đối chạm nổi chữ Hán sơn son thiếp vàng, giá binh khí thập bát ban võ nghệ bằng gỗ quý đen tuyền.

Tháng Tư 21, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA GHÔSITARAM

Từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 năm 2010, tại chùa Ghôsitaram đã diễn ra lễ kiết giới sima (khánh thành) ngôi chánh điện chùa Khmer lớn nhất Việt Nam. Ngôi chùa tọa lạc tại ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu – cách thị xã Bạc Liêu không đầy 5km về phía Đông

Tại lễ khánh thành, chùa Ghôsitaram đã đón tiếp hàng chục ngàn lượt khách tham quan, cầu phước, cúng dường. Cả ngày lẫn đêm, từng dòng người từ khắp nơi trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn tiếp tục đổ về chùa Ghôsitaram để tận mắt chiêm ngưỡng ngôi chánh điện đẹp nhất khu vực Nam Bộ và chứng kiến lễ kiết giới có ý nghĩa thiêng liêng do nhà chùa tổ chức. Đại diện hơn 200 chùa Khmer trong khu vực ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ là khách mời dự lễ hội này.

Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, chánh điện là công trình thiêng liêng, là ngôi nhà dùng để thờ phụng đức Phật nằm ở trung tâm chùa, quay mặt hướng đông. Trong hầu hết các ngôi nhà trong chùa thì chánh điện là công trình kiến trúc đặc sắc và nổi bật nhất. Với đồng bào Khmer, đến chùa không chỉ để chiêm ngưỡng nét đẹp lộng lẫy của công trình chánh điện mà quan trọng hơn là họ được cúng dường, cầu may, tích phước tại lễ kiết giới ít có trong mỗi đời người.

Thượng tọa Trang Phương Thanh, Phó trụ trì chùa Ghôsitaram cho biết:

Ngôi chánh điện đầu tiên của chùa được xây dựng vào năm 1860, do Hòa thượng Hao Ny đặt viên đá đầu tiên xây dựng và chính ngài là vị trụ trì đầu tiên của chùa.

Đến năm 2000, ngôi chánh điện ấy đã không còn an toàn cho việc sinh hoạt lễ hội Phật giáo. Ngày 11/11/2001, chánh điện chính thức được khởi công xây mới trên diện tích 427,5m2 với chiều cao 36,3m.

Cùng với xây dựng chánh điện, tín đồ, phật tử của chùa cũng quyết tâm xây thêm các công trình phụ khác gồm: đôi cột phướng, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, nhà để ghe ngo… với tổng tiền đầu tư trên 10 tỷ đồng.

Kết quả của sự thành công này là sự nỗ lực to lớn của các nhà sư, tín đồ phật tử của chùa đã bỏ nhiều công sức, mồ hôi, của cải. Sự thành công đó bao gồm nhiều yếu tố cộng lại trong quãng thời gian gần 10 năm trời.

Toàn bộ công trình được xây dựng theo kiến trúc cổ kính kết hợp hài hòa với kiến trúc hiện đại, mang tính hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc. Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc.

Bên ngoài và phía trong được điêu khắc tỷ mỷ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam Tạng Kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ và đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghệ nhân Danh Sà Rinh cho biết: “Để chạm trổ hoàn thành tất cả đường nét, hoa văn nghệ thuật cho ngôi chánh điện này, chúng tôi đã bỏ thời gian khoảng 4 năm ròng”. Theo ban quản trị chùa, kinh phí xây dựng chánh điện và các công trình phụ sử dụng từ nguồn vốn của chùa, của các nhà hảo tâm và vốn hỗ trợ của Đảng, Nhà nước.

Nhắc tới chùa Ghôsitaram, người ta không chỉ nghĩ đến các giá trị nghệ thuật thể hiện qua mỗi công trình mà ở đó còn là cái nôi của phong trào tu học trong giới sư sãi. Ngay từ những năm đầu 1980, chùa Ghôsitaram đã trở thành “trường chùa” đầu tiên của tỉnh dưới sự gây dựng của Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì chùa. Cũng chính nơi đây đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh trong tỉnh và khu vực đang nối gót nhau cống hiến xã hội. Vì nhà chùa không chỉ là địa chỉ tu học, rèn đức luyện tài cho giới nhà sư mà có cả các lớp học bổ túc văn hoá cấp THCS, THPT đặt dưới sự quản lý của Trung tâm GDTX huyện Vĩnh Lợi. Ngoài ra, chùa Ghôsitaram còn là ngôi chùa có số lượng tín đồ trong tỉnh, từ Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Tây Ninh… đến đây tu học đông nhất với khoảng 70-80 vị mỗi năm.

Sự ra đời của ngôi chùa Ghôsitaram đã cho thấy ý nghĩa thiết thực, đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng dân tộc Khmer trong tỉnh và trong vùng. Hiện tại và tương lai, chùa Ghôsitaram vẫn mãi là điểm sáng tô thắm nhiều hơn cho nền văn hóa, cho nét đẹp tín ngưỡng của đồng bào Khmer với phương châm “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”. `

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

TỪ PARIS CẬU BA ĐIỆN SẼ ĐIỆN VỀ THÁNG TỚI
Xứ Bạc Liêu – Ông Hội đồng đổi mới cửa nhà

Mấy ngày nay, Nhà Lớn thật là rộn rịp. Nhà Lớn là tên thiện hạ đặt cho tòa nhà nguy nga nằm dọc bờ sông Bạc Liêu, cách cầu Quay vài trăm thước. Đây là biệt thự lầu, kiến trúc tối tân, cất theo kiểu nhà Tây trên Sài Gòn. Ai đi ngang qua cũng phải ngắm nhìn và trầm trồ khen đẹp. Tòa nhà này làm cho các tham biện chủ tỉnh Tây cũng phải ganh tỵ so với dinh chủ tỉnh, nó chỉ thua về diện tích, nhưng ăn đứt hình dáng bên ngoài và trang trí nội thất bên trong. Đây là nhà của ông Hội đồng Trạch, đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu. Mấy tiếng “đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu” chưa giúp các bạn hình dung được cơ nghiệp của ông Hội đồng, cần giở sổ bộ điền đất để có vài con số cụ thể.

Mười lăm đại điền chủ đứng đầu trong tỉnh Bạc Liêu là vài người Việt Nam bên cạnh đa số là người Tàu và tám người Pháp. Hội đồng Trạch – Trần Trinh Trạch – chiếm số một với 110000 mẫu ruộng và nhiều sở ruộng muối nữa. Đứng số 2 là Vưu Tung với 75000 mẫu ruộng, Châu Oai đứng hạng ba với 40000 mẫu, Cao Triều Phát, lãnh tụ Cao Đài đứng hạng tư trước Hùynh Hữu Phước, kế tới Quách Ngọc Đống. Tám chủ điền Tây xếp hành ở sau với những tên Humelin, Grégoira, Gressier, Éméry…

Nhà Lớn rộn rịp về bức điện Cậu Ba từ Paris đánh về. Cậu Ba cho biết cậu đã “thành tài” và đang đáp tàu về nước. Chiếc Aramis sẽ cập bến Nhà Rồng vào tuần tới đây. Ông Hội đồng giở lịch xem ngày: còn đúng một tuần nữa thằng con cưng của ông sẽ về. Phải sửa soạn lên Sài Gòn rước nó. Rồi phải làm tiệc tùng trước cúng kiếng ông bà đã phù hộ nó đi tới nơi về tới chốn, học hành đỗ đạt làm rạng rỡ ông bà cha mẹ, sau đãi đằng bà con và các vị tai mắt trong tỉnh để họ biết dòng họ Trần Trinh Trạch xứng đáng là danh gia vọng tộc.

Hội đồng Trạch có ba người con trai nhưng chỉ cưng nhất nhà là cậu Ba. Tại sao? Cậu Hai – Trần Trinh Đinh gọi là cậu Hai Đinh. Cậu Ba tên Trần Trinh Qui, gọi là Ba Qui. Ông Trạch khoái đặt tên con theo giống thủy tộc vì ông là Trạch, con ông phải là cua đinh, rùa (qui). Đứa con trai út cũng mang tên một loài sống dưới nước nhưng lại được gọi là cậu Tám Bò vì thói quen bò xuống lầu để đi la cà tán gái trong đêm. Cậu Hai Đinh học hành cũng khá, đậu Đíp lôm rồi học ban tú tài nhưng ông hội đông gọi về trông coi điền đất giúp ông. Theo ông thì “dân cậu” chỉ cần học tới đó thôi, miễn đủ sức nói tiếng Tây giòn rụm như bẻ củi cho mấy thằng Tây trọng nể là được rồi. Học nhiều, dẫu kỹ sư, bác sỹ cũng kiếm tiền không nhiều bằng mấy ông chủ điền. Cậu Hai Đinh nghe lời ông Hội đồng bỏ học về trông coi điền đất, Cậu sớm thấy làm chủ điền không nhàn như thiên hạ nghĩ, bởi vì đến mùa, phải đấu trí ác liệt với đám “chủ chành”. Chủ chành là những người Tàu chuyên mua lúa gạo các tỉnh miền Tây, chở ghe chài lên Chợ Lớn bán, Mua rẻ bán mắc là nghề của chủ chàn. Bán hớ một chút là mất bạc ngàn bạc muôn. Cho nên phải cho người thân tín dòm ngó đám “chệt chành” lân la vô đất điền gạ tá điền bán lúa non. Đó là thủ đoạn cho vay tiền để nhà nông mua lúa giống, mua phân, tới mùa phải bán lúa rẻ cho chúng. Do cạnh tranh ráo riết từng ngày từng giờ với “chệt chành” mà cậu Hai Đinh quyết định nhờ tới nàng tiên nâu. Làm vài điếu thuốc phiện là tâm trí minh mẫn lạ thường, tình hình rối ren cách mấy cũng có cách giải quyết thần tình. Cậu Hai sắm bàn đèn, nằm nhà hút chớ không tới các tiệm hút ngoài chợ. Các tiệm này có bộ mặt đặt biệt là cánh cửa gió gắn kính đầy màu lục để lọc ánh sáng bên ngoài. Bước vô trong là lạc vào một thế giới khác hẳn, một thế giới mờ mờ, thơm tho. Các đi-văng gõ mát rượi với những chiếc gối sành cùng màu lục dịu mắt như mời mọc bạn nằm xuống, kéo vài hơi cho tỉnh người sau một ngày vật lộn với đời. Trước cửa tiện có gắn hai chữ RO tức Régie Opium, với nghĩa là công quản thuốc phiện. Hai chữ này đối lập với RA (Régie Alcool: công quản rượu trắng) gắn ở các tiệm bán rượu công xi.

Nhờ hút đầy đủ mà cậu Hai Đinh mập tốt, dáng người bệ vệ, mặt vuông chữ điền, Cậu thích mặc xà rông, chỉ khi nào có khách mới xỏ bộ pyjama vô cho phải phép. Mợ Hai lớn ở riêng. Nhà ở gần Cầu số 3 đường đi Vĩnh Châu. Cậu Hai ở với mợ Hai nhỏ, một thiếu phụ có đời chồng trước là người Miên làm tài xế cho ông hoàng Sihanouk bên Nam Vang. Ngoài ra cậu Hai còn có một cô vợ bé ngưới Cù Lao Giêng xinh đẹp như phần lớn các cô gái miệt vườn.

Nhà cậu Hai cũng rất bề thế ở xóm làng, kế bên có nhà máy xay lớn nhất tỉnh. Cậu Hai đã “an bài” nên ông HỘi đồng dồn hết tâm trí cho cậu Ba Qui.Cậu Ba đậu Đíp lôm rồi, một hai đòi đi Tây. Ông Hội đồng nói:

– Muốn lấy bằng cấp tú tài thì lên Sài Gòn học. Tao xin cho mầy vô trường Tây dễ dàng, Đi qua Tây làm chi cho xa xôi, tốm kém. Cậu Ba cự nự:

– Nhà mình bạc chứa cả kho mà ba hà tiện làm chi ba? Để cho con một bụng chữ còn hơn là để mấy chục ngàn mẫu ruộng. Học Chasseloup trên Sài Gòn thì thường quá! Có gì đáng hãnh diện đâu ba? Nếu ba cho con qua Tây học thì thiên hạ khắp nơi trong xứ Nam Kỳ lục tỉnh nầy ai cũng kính nể ba. Chừng con học thành tài, con kéo về một cô vợ đầm thì dòng họ Trần Trinh mình vang danh bốn biển!

Ông Hội đồng giẩy nẩy:

– Chớ có làm xằng! Muốn đi Tây thì tao cho đi Tây, mà cấm ngặt mầy không được cưới vợ đầm, Tao với má mầy chữ nghĩa không đầy lá mít, làm sao nói chuyện với con dâu “đầm hái nho” được?

Cậu Ba muốn gì được nấy, vui vẻ nói:

– Ba chịu cho con đi Tây rồi phải không? Còn chuyện lấy đàm làm vợ thì ba yên chí lớn đi! Con không dại như mấy cha trạng sư, bác vật võng về mấy bà vợ “đầm hái nho” đâu! Ba biết tại sao họ cưới vợ đầm mà xấu như ma lem không? Có gì khó hiểu đâu! Các cha đó vốn là học trò khó, kiếm tiền đóng học phí, trả tiền nhà trọ là cạn túi. Đâu có dư tiền để đi chơi bời ở các nhà hàng. Cho nên sẵn mấy cô bồi phòng, tha hồ ma chọc ghẹo, mà trai gái. Mấy con bồi phòng này là dân nhà quê lên Kinh thành Ánh Sáng để kiếm việc là, vừa nhẹ nhàng, vừa văn minh, vớ được các ông cử nhân tấn sĩ An Nam, dễ dầu gì các nàng buông tha. Vậy là các trạng sư bác vật “dính chấu”…

Ông Hội đồng cười hả hê. Ông hài lòng có thằng con thông minh hơn người. Nó biết nói như vậy thì ông yên chí lớn.

Thấm thoắt mà đã ba năm. Cậu Ba đã “thành tài” và sắp trở về “vinh quy bái tổ”. Chỉ còn một tuần nữa thôi. Một mặt ông Hội đồng cho sửa soạn nhà cửa cho trang hoàng đẹp đẽ, một mặt ông sẽ sắm một chiếc xe hơi mới thay chiếc xe cũ nhân dịp lên Sài Gòn đón rước Cậu Ba.

Chiếc xe Ford đang dùng còn tốt, nhưng trong dịp đặc biệt này, cần sắm xe mới cho khách khứa biết mặt dòng họ Trần Trinh đúng là danh gia vọng tộc. Một ngày trước khi tàu Aramis cập bến Nhà Rồng, ông Hội đồng lên Sài Gòn mướn khách sạn Nam Kỳ trước bồn binh chợ Bến Thành. Ông cùng sốp-phơ tới hãng bán xe hơi ngay ngã tư Charner-Bonard (Nguyễn Huệ – Lê Lợi) chọn xe.

Mấy thằng Tây trong hãng nhìn ông khách có vẻ nhà quê mặc bà ba lục soạn trắng ngã màu phèn, đi giày hàm ếch, ôm cái mo cau căng phồng như là một quái vật hiếm thấy. Bất chấp vẻ khinh khỉnh của mấy thằng Tây, Ông Hội đồng bảo sốp-phơ xem kỹ chiếc xe tốt nhất, ra lịnh cho Tây mở cửa xe cho ông lên ngồi, chạy một vòng cho ông xem máy nổ có êm không. Chừng vừa ý, ông mở mo cau ra đếm tiền. Bọn Tây trố mắt nhìn, cả cọc giấy bộ lư (một trăm đồng). Bấy giờ chúng mới biết ông lão có vẻ nhà quê đó chính là đại điền chủ số một Nam Kỳ lục tỉnh.

Mua xe mới rồi, ông Hội đồng đắc chí bảo sốp-phơ:

– Có thằng con đi học bên Tây nay đã thành tài về nước, phải đi đón nó với chiếc xe nầy mới đúng điệu. Phải không mậy?

Văn phòng hãng tàu Messaferies Maritimes thông báo ngày giờ chiếc Aramis cập bến Sài Gòn. Đúng giờ nầy, bến cảng Nhà Rồng đông nghẹt. Thiên hạ tới đón thân nhân từ Pháp về, Gia đình ông Hội đồng đi hai chiếc xe hơi. Vào quán rượu nhâm nhi trong khi chờ đợi. Trong số những gia đình đi đón người thân trên tàu chạy tuyến đường Marseille – Sài Gòn, cánh ông Hội đồng là xôm trò hơn hết. Thiên hạ kéo tới trầm trồ chiếc xe Huê Kỳ mới xuất xưởng. Mấy hồi còi dài vang lên trên sông Sài Gòn. Chiếc Aramis từ từ rẽ sóng, dáng vóc uy nghi của con tàu vượt đại dương. Sông Sài Gòn, tuy là sông lớn nhưng so với chiếc Aramis thì lại không bao la như đối với các chiếc tàu chạy lục tỉnh.

Tàu cập bến. Thủy thủ buộc đõi, hạ cầu thang. Lần lượt hành khách bước xuống cầu thang bên bến cảng. Từ trên boong, cậu Ba tươi cười đưa tay vẫy chào ông bà Hội đồng, vợ chồng cậu Hai Đinh và các em đang đứng chờ cậu. Mọi người đều thấy rõ là cậu Ba ăn mặc thật sang trọng, đúng thời trang, như họ thấy trên màn bạc trong rạp chiếu bóng. Chừng Cậu Ba xuống bến, mọi người chạy lại bắt tay ôm hun kiểu Tây Đầm. Ông Hội đồng cười tươi rói:

– Mày mập ra, coi oai như Tây. Có cõng về một cô “đầm hái nho” không đó?
Cậu Ba cười khanh khách:

– Con về mình “ên”. Ba không thấy sao mà còn hỏi!

Vậy là ông Hội đồng yên chí lớn. Thằng con cưng của ông khôn “cãi trời”.
Tiếp tục đọc

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

KHU DI TÍCH ĐỒNG NỌC NẠN

Nọc Nạn là tên một con rạch chạy từ lũng Non Vật phía tây bắc xã Phong Thạnh đổ ra kinh xáng Bạc Liêu – Cà Mau ngang quốc lộ I tại km 2215, cánh đồng ven rạch đó về phía đông gọi là đồng Nọc Nạn thuộc ấp 4 xã Phong Thạnh huyện Giá Rai – Minh Hải.

Vị trí

Nọc Nạn nằm về phía tây bắc huyện Giá Rai, cách huyện lỵ khoảng 1.500m đường chim bay, cách quốc lộ I khoảng 800m về phía bắc.
Sự kiện Nọc Nạn năm 1928, là một bằng chứng, chứng minh tính đặc thù của chế độ thực dân cướp nước và bọn quan lại tay sai. Nó đã gây sự căm phẫn trong lòng nhân dân Nam Kỳ, giới ký giả người Việt và nỗi bất bình của người Pháp tiến bộ.

Cuộc đấu tranh nhân dân vùng Nọc Nạn, tuy không lan rộng thành một phong trào đều khắp trong huyện, tỉnh. Nhưng cuộc đấu tranh ấy vừa biểu hiện đặc điểm cuộc đấu tranh của quần chúng nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long và nghĩa khí phóng khoáng của người dân Nam Bộ ở vùng đất mới khai phá.

Khảo tả di tích:

Năm 1928 tại đồng Nọc Nạn nổ ra cuộc quyết chiến đẫm máu giữa những người giữ lúa, giữ đất – anh em ông bà Mười Chúc – chống lại những tên cướp lúa, cướp đất – bọn địa chủ cấu kết với thực dân Pháp. Sự kiện xảy ra trên sân phơi lúa của gia đình ông Mười Chúc. Nay di tích gồm 2 phần: sân phơi lúa và khu mộ ông bà Tám Luông (song thân ông Mười Chúc) – cùng các anh em ông, cách nhau khoảng 300m.
Sân lúa là một khoảnh đất rộng khoảng 600m2 nằm ven rạch Nọc Nạn về phía đông, cách quốc lộ I khoảng 500m. Sân được đắp cao 40cm (so với mặt ruộng) được dùng để cất chòi giữ lúa và sân phơi lúa. Hiện nay sân phơi vẫn còn như nguyên trạng do con cháu của ông Mười Chúc sử dụng cất nhà ở và phơi lúa, chất rơm.

Khu mộ:

Sau khi song thân mất, anh em ông Mười Chúc đắp một nền mộ rộng khoảng 700m2, cao 50cm để an táng và xây nhà mồ. Sau sự kiện Nọc Nạn, những người bị thảm sát được chôn rải rác gần đó. Đến năm 1963 được quy tập về khu mộ những người anh em ông Mười Chúc mất sau này cũng được an táng tại đó.

Khu nhà mồ thờ ông bà Tám Luông rộng 30m2 tường xây cao 1,20m cửa quay về hướng nam được xây bằng gạch thẻ chừa ô khoảng cách 1-1. Tường bao từ mặt đất lên hàng gạch trống được xây kín, cao 40cm, gạch thẻ xây vuông 30×30 – hai bên cổng cách mặt đất 40cm xây táp lô đúc sẵn hình chữ thọ, mỗi cạnh 20cm. Phần trong cùng là bàn thờ có mái che uốn cong đúc bê tông cốt thép 20×20, bệ thờ cách nền 50cm. Bài trí đơn giản, nền được lát gạch bông 20×20 màu đỏ- vàng xen kẽ (đã phai màu). Bên trong tường là hai ngôi mộ ông Tám Luông (phía tây) và bà Tám Luông (phía đông) quay ra hướng cổng (phía nam). Kích thước 2m x 0,8m x 1,05m (hai ngôi mộ bằng nhau) nấm xây tròn là khối hình thang cạnh trên 0,80m, cạnh dưới 1m – mặt trước ghi tên, năm mất. Trang trí xung quanh hoa văn đắp nổi chạy dọc gần 4 đường xung song song. Hai ngôi mộ cách nhau 1,5m.

Ngoài khu nhà mồ, trên nền mồ còn có 7 ngôi mộ xây (1,2,3,4,5,6,7). Một ngôi mộ đất số (5) ( theo vị trí bản vẽ kỹ thuật).

Các di vật trong di tích:

Hiện nay bảo tàng Minh Hải đang lưu giữ ảnh các người bị thảm sát, những người tham gia đấu tranh của bọn địa chủ thực dân cướp đất. Ngoài ra còn có 1 ảnh chân dung các trạng sư biện hộ cho gia đình nạn nhân.

Với bản chất tham lam xảo quyệt – bọn địa chủ tìm cách cướp hơn 50ha đất của gia đình ông Mười Chúc. Thế nhưng ông Tư Tại – anh ông Mười Chúc đã khôn khéo dựa vào luật pháp – mặc dù là luật pháp thực dân để khiếu tố. Sự việc trở nên phức tạp hơn khi Mã Ngân – một địa chủ địa phương không tìm ra cách nào để chiếm đất, kể cả việc làm phái lai giả. Chúng đã nhờ đến hiến binh Pháp dùng vũ lực đến để cướp lúa nhà ông Mười Chúc. Cho đến lúc chúng kéo vào, mặc dù là nông dân ít học, thật thà, anh em ông cũng đủ sáng suốt để ra thương thuyết, tránh bạo động. Cho đến khi tên hiến binh Tournier đánh úp trong ngã xuống , sự chống trả quyết liệt dẫn đến đổ máu của anh em ông Mười Chúc mới nổ ra.

Mặt khác khi tòa án xử, mặc dù bị kết tội bạo loạn chống công quyền thế nhưng được dư luận ủng hộ, kể cả hai trạng sư người Pháp tên là Fevaco và Thcon. Bên cạnh đó, báo chí tiến bộ đều có bài viết bênh vực gia đình ông Mười Chúc đã đòi được đất – Một mảnh đất thấm máu bao nhiêu người thân trong gia đình.

Đến ngày 16 tháng 2 năm 2008, kỷ niệm 80 năm sự kiện Đồng Nọc Nạn (17.2.1928- 17.2.2008), tỉnh Bạc Liêu khánh thành việc trùng tu, mở rộng khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đồng Nọc Nạn tại thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai.

Khu di tích này có diện tích hơn 3 ha, gồm các hạng mục khu mộ gia đình Mười Chức, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện trận đánh giữa gia đình Mười Chức và bọn Tây cướp lúa… với tổng đầu tư trên 8 tỉ đồng. Đây là một trong những sự kiện lập nên những chiến công rất đỗi tự hào, nêu cao tinh thần dũng cảm, khí phách của những nông dân tay lấm chân bùn ở vùng cực Nam Tổ quốc, đứng lên chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn quan lại cường hào. Lễ hội Đồng Nọc Nạn tỉnh Bạc Liêu là hoạt động nằm trong chương trình năm Du lịch Quốc gia Mekong- Cần Thơ 2008 sẽ khai mạc tại Cần Thơ vài ngày tới.

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TÁC DỤNG CỦA CÂY RAU DỀN

Để chữa bệnh táo bón, huyết áp cao, nhức đầu, chóng mặt, nóng phừng mặt, lấy 250 g dền cơm luộc sôi 3 phút, vớt ra trộn với dầu vừng hoặc bột vừng đen, ăn với cơm.

Rau dền có nhiều loại. Loại lá lớn có màu đỏ tía là dền đỏ, dền canh; đặc điểm là thân mọng nước, nấu chóng nhừ, nấu canh thì ngon hơn. Loại lá bé có màu xanh là dền trắng, dền xanh hay dền cơm. Rau dền gai mọc hoang.

Rau dền giàu vitamin A, B, C, PP và chứa gần 10 acid amin cần thiết.

Loại rau này tính lạnh, dễ gây đi ngoài (nhất là loại tía), nên không dùng cùng với các thức ăn có tính lạnh như tiết, ba ba.

Cây dền tía

Được thổ dân châu Mỹ sử dụng từ 8.000 năm trước, đến nay cây này đã được trồng trên các cánh đồng hàng trăm nghìn hecta. Ở Mỹ có hàng nghìn điền chủ trồng cây dền và đây là một trong 40 loại thức ăn thông dụng. Thân và lá thường làm thức ăn luộc, nấu canh.

Dền tía vị ngọt, tính mát, giúp thanh nhiệt, làm mát máu, lợi tiểu, sát trùng, trị nọc ong, rắn rết, dị ứng mẩn ngứa, kiết lỵ, viêm gan vàng da. Để chữa bệnh hậu sản, dùng dền tía nấu canh hoặc xay lấy nước nấu cháo. Đắp ngoài chữa sơn ăn mặt.

Để phòng chữa dị ứng, giảm tác hại của xạ trị, phóng xạ, lấy rau này thái nhỏ, đun sôi 300 ml nước rồi cho và; khi sôi lại thì cho 50 g gan heo thái miếng đã được ướp gia vị và xào với tỏi sẵn. Nếu phòng bệnh thì ăn 2-3 lần/tuần, còn chữa trị thì ngày một lần, kỵ tiết canh.

Rễ cây được dùng làm thuốc chữa sốt xuất huyết, nôn. Các nhà khoa học Nhật dùng các sản phẩm của dền tía để tẩy rửa chất phóng xạ, dầu hạt dền chữa nhiễm chất phóng xạ.

Rau dền cơm

Loại này luộc xào, nấu canh ngọt hơn dền tía; làm thuốc tương tự dền tía, như lợi tiểu, chữa viêm bàng quang.

Để chữa bệnh táo bón, huyết áp cao, nhức đầu, chóng mặt, nóng phừng mặt, lấy 250 g dền cơm luộc sôi 3 phút, vớt ra trộn với dầu vừng hoặc bột vừng đen, ăn với cơm.

Hạt dền cơm có vị ngọt tính lạnh. Để mát gan, trừ phong nhiệt, chữa mắt kém, dùng bài thuốc: Bột hạt dền uống với nước sắc hạt muồng ngủ (thảo quyết minh) 12 g. Để lợi tiểu, dùng nước sắc hạt dền 20 g. Hạt dền còn có ích cho khí lực, thông đại tiểu tiện, trừ giun đũa.

Rau dền gai

Chỉ dùng lá nấu canh hoặc dùng như các rau dền khác, thêm tôm hoặc thịt. Có người thích loại này vì nó có mùi vị đậm đặc biệt. dền gai luộc chấm vừng cũng là món ăn ngon bổ, phòng chữa các bệnh đường ruột.

Lá dền gai giã nát, thêm nước, chắt nước uống, đắp bã để chữa rết cắn, ong đốt lở ngứa. Toàn cây cây chứa nhiều muối kali nên lợi tiểu, chữa sốt. Lá dền gai chữa viêm phổi, lỵ, giã nát đắp chữa bỏng, nhọt mưng mủ.
Sưu tầm theo SK&DS

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Thực phẩm và Bài thuốc nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG BÀI THUỐC TRỊ BỆNH BẰNG TRÁI CÂY

BỆNH VIÊM HỌNG
Bài 1
Thành phần: Sơn tra 30 gam, lá chè 6 gam, đường phèn 30 gam.
Cách chế: Đem sắc kỹ.
Công hiệu: Chữa viêm họng cấp tính.
Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 2
Thành phần: Vỏ lê 15 gam, cam thảo chế 10 gam, bì lợn 30 gam.
Cách chế: Đem sắc kỹ.
Công hiệu: Chữa viêm họng mạn tính.
Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.
Bài 3
Thành phần: Khế chua 500 gam.
Cách chế: Rửa sạch.
Công hiệu: Chữa viêm họng.
Cách dùng: Ăn tươi, mỗi ngày 1-2 quả.
Bài 4
Thành phần: Trám chua tươi 7 quả, thân cỏ lau tươi 30 gam.
Cách chế: Trám bỏ hạt, sắc cùng thân cỏ lau.
Công hiệu: Điều trị viêm họng.
Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần.
Bài 5
Thành phần: Táo tây 2 quả.
Cách chế: Rửa sạch gọt bỏ vỏ.
Công hiệu: Chữa viêm họng mạn tính.
Cách dùng: Ăn tươi, mỗi ngày 1-2 lần.
Bài 6
Thành phần: Câu kỷ tử 15 gam.
Cách chế: Ngâm nước sôi.
Công hiệu: Chữa viêm họng mạn tính.
Cách dùng: Uống thay nước chè, mỗi ngày 4 lần.
Bài 7
Thành phần: Vỏ lê 10 gam, vỏ mía 15 gam.
Cách chế: Rửa sạch, đổ nước đun kỹ.
Công hiệu: Chữa viêm họng.
Cách dùng: Uống thay nước chè.
Tiếp tục đọc

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Thực phẩm và Bài thuốc nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CÓ NÊN SỬ DỤNG XE TẬP ĐI CHO TRẺ KHÔNG ?

Có rất nhiều gia đình không chỉ ở thành phố mà ở cả nông thôn đều mua cho trẻ chiếc xe tập đi từ rất sớm. Có nhiều trường hợp dù chưa biết đứng, bé đã được đặt vào chiếc xe này, ban đầu được xem như cái ghế đồ chơi để bé chịu ăn bột. Một thời gian sau đó khuyến khích và tập cho bé di chuyển trong xe. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều trẻ em dùng xe tập đi bị ngã do xe lao rất nhanh, lăn xuống bậc thềm hoặc cầu thang.

Nguy cơ chấn thương từ xe tập đi là vấn đề quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Mỗi năm Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. HCM, tiếp nhận 12 – 15 trường hợp trẻ bị tai nạn từ xe tập đi, chủ yếu ở trẻ 6 – 12 tháng tuổi. Thương tích thường gặp là chấn thương tay, sọ não, bỏng hoặc đa chấn thương.

Cần biết rằng sự phát triển của trẻ theo một trình tự tự nhiên là mẫu phát triển bình thường, chẳng hạn khi trẻ lật sấp là lúc chuẩn bị cho khả năng ngồi, khi đã ngồi vững thì trẻ sẽ học bò, khi trẻ hoạt động nhịp nhàng đôi chân bò đi, đó là bài tập rèn luyện hai chân để bé sẵn sàng cho giai đoạn tập đi. Như vậy, trẻ sẽ đi khi trẻ đã sẵn sàng để đi, có nghĩa là trẻ đã có đôi chân đủ mạnh, đôi bàn chân vững chắc, có khả năng kiểm soát thăng bằng. Để có được những khả năng này, hãy cho trẻ trải nghiệm các hoạt động bò, đứng, đi theo cách cổ điển, chắc chắn rằng trẻ sẽ biết đi đúng thời gian của trẻ.

Trong khi đó, thiết kế của xe tập đi không tạo thuận lợi cho kiểu đi bình thường. Trong xe tập đi, trẻ có khuynh hướng ngồi trên miếng lót đỡ khung chậu và dùng các đầu ngón chân để đẩy xe đi. Như vậy, trẻ không có cơ hội để hai bàn chân đứng chịu sức, cơ hội cho hai đầu gối co duỗi kiểu bước đi cũng không xảy ra. Không ít trường hợp trẻ chậm phát triển, khi sử dụng xe tập đi, trẻ vẫn không cải thiện được chức năng đi. Ví dụ mới đây, một bé 18 tháng tuổi đến Khoa Phục hồi chức năng với lý do chưa biết đi mặc dù mẹ bé đã cho bé vào xe tập đi rất sớm lúc 7 tháng tuổi.

Các nhà chuyên môn khuyên các bậc cha mẹ có con nhỏ không nên ỷ lại vào xe tập đi. Thay vào đó, chỉ cho trẻ vào xe tập đi thời gian ngắn, khi trẻ đã chập chững biết đi nên tạo cơ hội cho trẻ có những hoạt động bò, vịn đứng lên… Luôn để mắt đến trẻ, đừng bỏ trẻ một mình vì trẻ dễ gặp tai nạn với xe tập đi. Nên làm cửa chặn ở các đầu cầu thang, bậc tam cấp vì bánh xe tập đi trơn dễ đẩy trẻ đi xa khó kiểm soát làm trẻ dễ bị ngã và chấn thương. Ngoài ra, tuyệt đối không cho trẻ lại gần bếp, vật dụng nóng khi trẻ ngồi trên xe tập đi. Không để trẻ ở gần nhà vệ sinh, hồ nước, thùng nước.

BS.Hà Thị Kim Yến
Sưu tầm SK&DS

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Chăm sóc trẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?