Helenkhanhvy's Blog

Just another WordPress.com weblog

KHẮC PHỤC 10 SAI LẦM VỀ GIẤC NGỦ

Nhiều vấn đề giấc ngủ là kết quả của những thói quen xấu như thức khuya, ăn uống quá trễ, không tuân theo nhịp sinh học… Thay vì dùng thuốc ngủ để đối phó chứng mất ngủ, hãy tìm căn nguyên từ sự thiếu cân bằng của bản thân.

Sai lầm 1: Không tuân theo một lịch ngủ nhất định

Đồng hồ sinh học điều chỉnh giấc ngủ khỏe mạnh phụ thuộc vào tính ổn định nhất quán. Vì vậy ngủ bù là một việc làm vô ích. Bạn thường thức khuya vào đêm cuối tuần và hi vọng một giấc ngủ dài vào ngày Chủ nhật có thể bù lại? Điều này có thể gây ra chứng mất ngủ hay thiếu tỉnh táo trong suốt tuần làm việc tiếp theo của bạn.

Giải pháp: Tuân theo một lịch ngủ nhất định. Thức dậy và đi ngủ vào một giờ giống nhau, thậm chí trong cả ngày cuối tuần là điều quan trọng nhất để bạn tạo ra một thói quen ngủ tốt. Một lịch ngủ nhất định nhắc nhở bộ não lúc nào nên tiết ra các hoocmon thúc đẩy giấc ngủ và việc thức dậy.

Sai lầm 2: Ngủ bù bằng những giấc ngủ ngắn trong ngày

Giấc ngủ ngắn trong ngày, đặc biệt sau 4h chiều hoặc thậm chí ngủ gật lúc coi phim buổi tối có thể phá tan nhịp ngủ của bạn và khiến bạn có một đêm không trọn giấc.

Giải pháp: Giấc ngủ ngắn không quá 30ph. Nếu bạn thật sự cần chợp mắt thì chỉ nên có duy nhất giấc ngủ ngắn trong ngày, không quá 30ph và trước 4h chiều. 30ph ngủ trưa có tác dụng tốt với nhiều người.

Sai lầm 3: Không chuẩn bị cho giấc ngủ

Khi bạn đang chạy nhanh, bạn cần giảm tốc trước khi đứng lại. Giấc ngủ cũng vậy, cơ thể cần thời gian để tạo đủ các chất thần kinh dẫn truyền và phản hồi cho trung tâm giấc ngủ của não bộ, kế đó các hormone giấc ngủ được tiết ra để bạn chìm vào giấc ngủ.

Giải pháp: Dành thời gian để bạn đi dần vào giấc ngủ. Màn hình máy tính, TV và các thiết bị điện quá kích thích não bộ và khiến bạn thức lâu hơn. Đến 10h tối, hãy tắt chúng đi! Ngâm mình trong nước ấm, nghe một bản nhạc êm dịu, hoặc thể dục nhẹ nhàng để mời chào giấc ngủ đến.

Sai lầm 4: Không đưa ra những tín hiệu ngủ cho cơ thể

Tín hiệu cơ bản của giấc ngủ đó chính là bóng tối và ánh sáng. Khi chúng ta ngủ, cơ thể cần bóng tối hoàn toàn để tạo ra đủ hormone giấc ngủ là melatonin.

Giải pháp: Căn phòng cần tối hết mức có thể. Kéo rèm cửa nếu có ánh sáng chiếu vào. Tìm và dọn dẹp các “thủ phạm” tạo sáng trong phòng bạn như đồng hồ báo thức, thiết bị sạc, màn hình máy tính v.v… Dù chỉ là ánh sáng rất yếu cũng làm gián đoạn việc tạo ra melatonin. Nếu không thể chặn mọi nguồn sáng, hãy đeo mặt nạ che mặt. Trường hợp bạn thức dậy nửa đêm để đi vệ sinh, cố gắng đừng bật đèn.

Sai lầm 5: Ăn khuya thức ăn đường bột

Điều này làm tăng lượng đường trong máu và áp lực lên các cơ quan liên quan đến điều chỉnh hormone khắp cơ thể. Lượng hormone thay đổi có thể ảnh hưởng đến chu kì giấc ngủ khiến bạn thức dậy trong lúc ngủ.

Giải pháp: Nếu bạn muốn ăn, chỉ ăn nhẹ với thức ăn nhiều protein. Tốt nhất vẫn là không ăn gì trước giờ ngủ nhưng nếu bạn đói, bữa ăn nhẹ giàu protein sẽ không khiến hormone thay đổi mà còn cung cấp L-trytophan, một amino acid giúp tạo melatonin. Nên nhớ chỉ ăn một lượng rất nhỏ mà thôi.

Sai lầm 6: Dùng thuốc ngủ để cải thiện giấc ngủ

Thuốc ngủ không chữa được chứng mất ngủ mà còn khiến bạn gặp rắc rối. Nhiều nghiên cứu kết luận rằng thuốc ngủ có thể gây hại về lâu về dài. Chúng còn có thể gây nghiện.

Giải pháp: Học các kĩ thuật thư giãn. Stress có thể là nguyên nhân số một gây rối loạn giấc ngủ. Nhiều người nói rằng không thể cắt đứt dòng suy nghĩ trong đầu mình. Nếu là bạn, hãy thực hiện một vài bài tập hít thở, yoga hay ngồi thiền. Những điều này sẽ xoa dịu đầu óc bạn, giảm bớt căng thẳng lo âu.

Sai lầm 7: Uống rượu để ngủ

Vì rượu có tác dụng an thần nên nhiều người bị mất ngủ thường uống rượu để cải thiện giấc ngủ. Lúc đầu, rượu có thể gây buồn ngủ nhưng khi bị phân hủy trong cơ thể, nó thường gây ra gián đoạn giấc ngủ, khiến bạn ngủ không trọn giấc. Dùng rượu thường xuyên thì tác động gây buồn ngủ cũng giảm đi nhưng tác hại với giấc ngủ vẫn tiếp tục, có khi còn tệ hơn.

Giải pháp: Bổ sung dinh dưỡng giúp trấn tĩnh đầu óc và cơ thể. Thay vì uống rượu, hãy tìm kiếm những công thức đưa bạn vào giấc ngủ như amino acids, L theanine, taurine, 5 HTP và GABA, các thảo dược như chanh bạc hà, hoa lạc tiên, cúc chamomile, rễ nữ lang. Uống calci và magiê vào buổi tối cũng có lợi cho giấc ngủ. Với một số người, nhất là người ngoài 50, nên bổ sung melatonin vì lượng melatonin cơ thể tự sản xuất bị giảm khiến họ khó ngủ.

Sai lầm 8: Tìm kiếm giấc ngủ với cái TV

Nhiều người chúng ta xem TV trên giường để dễ ngủ hơn nhưng như vậy, chúng ta dễ thức dậy nửa đêm. Điều này sẽ tạo ra một chu kì hoặc tạo ra phản ứng ngủ không trọn giấc. Nhiều bệnh nhân sau nhiều năm bị chứng mất ngủ vì loại phản ứng này.

Giải pháp: Mang TV ra khỏi phòng ngủ. Không nên xem TV trên giường. Chiếc giường chỉ nên dành cho giấc ngủ và chuyện yêu đương…

Sai lầm 9: Cố dỗ giấc trên giường

Nếu không thể ngủ trong vòng 30-45 phút, có lẽ bạn cũng không thể trong ít nhất 1 giờ tiếp theo bởi vì bạn đã để lỡ “cánh cổng” đi vào giấc ngủ. Các nhà nghiên cứu cho rằng bộ não trải qua vài giai đoạn ngủ lặp đi lặp lại mỗi đêm, mỗi giai đoạn kéo dài 90ph đến 2 tiếng; bắt đầu mỗi chu kì là thời gian “cánh cổng giấc ngủ” mở ra. Bạn sẽ không thể ngủ khi cánh cổng đã đóng lại.

Giải pháp: Nắm bắt giai đoạn của giấc ngủ. Nếu bạn không thể ngủ trong vòng 45ph, hãy ra khỏi giường, đọc sách, thực hiện vài động tác yoga hoặc hoạt động nhẹ nhàng trong vòng một tiếng rưỡi, hai tiếng trước khi cố gắng ngủ lại. Nằm cố trên giường chỉ khiến bạn căng thẳng hơn.

Sai lầm 10: Coi giấc ngủ như một điều phiền phức

Cách nghĩ về giấc ngủ cũng ảnh hưởng đến khả năng đi vào giấc ngủ của bạn. Chứng mất ngủ trở nên trầm trọng hơn chính vì cách bạn đối phó với nó hơn là vì bản thân triệu chứng. Lo lắng quá nhiều về khả năng ngủ khiến giấc ngủ của bạn tệ hơn. Thật ra giống như nhiều điều trong cuộc sống, giấc ngủ gần như là sự cho đi, đi như dòng chảy, nó cần phải trở thành nhịp điệu tự nhiên như hơi thở, đến tự nhiên và bạn không cần nghĩ về.

Giải pháp: Như trôi đi với dòng chảy. Cần thời gian để luyện tập những bài tập hít thở hoặc ngồi thiền, tìm hiểu về thức ăn hay thuốc mà bạn sử dụng, những hoạt động hoặc hành vi có ảnh hưởng đến chu kì giấc ngủ. Tăng sự hiểu biết bằng cách chú ý hơn đến cơ thể, am hiểu về phản ứng của cơ thể với những thực phẩm và tình huống khác nhau. Sử dụng thời gian hiệu quả thay vì lo lắng về việc mình không thể ngủ.

Theo DivineCaroline, WebMD

Tháng Chín 1, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHỮA BỆNH GIỜI LEO

Giời leo là cách gọi dân dã, nôm na bệnh zona thần kinh do virus Varicella zoster gây ra. Bệnh gây đau rát vùng do thần kinh tổn thương chi phối. Ai cũng có thể mắc bệnh, nhưng lứa tuổi trên 50 mắc bệnh nhiều nhất.

Tổn thương mụn rộp trong bệnh zona

Ai dễ mắc bệnh?

Zona thần kinh do virus Varicella zoster gây ra, virut này cũng gây ra bệnh thủy đậu. Sau khi bị bệnh thủy đậu, virut có thể ẩn nhiều năm trong hạch của rễ sau dây thần kinh tủy sống, đến khi có điều kiện thuận lợi nó sẽ gây ra bệnh zona.

Những người có nguy cơ cao mắc bệnh là: bị suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, ung thư, bệnh nhân đang điều trị hóa chất ức chế miễn dịch, người tiếp nhận ghép bộ phận cơ thể, căng thẳng tinh thần. Virut gây tổn thương rễ dây thần kinh tủy và vùng da mà dây thần kinh này chi phối. Bệnh có thể tái phát nhất là khi dùng các thuốc làm giảm tính miễn dịch của cơ thể. Nhờ có sự miễn dịch của cơ thể với sự tấn công mới của virut thủy đậu, nên bệnh zona không lây từ người bệnh sang người lành đã mắc bệnh thủy đậu. Nếu người chưa có miễn dịch khi tiếp xúc với người bị bệnh zona có thể bị bệnh zona hoặc thủy đậu.

Dấu hiệu nhận biết bệnh zona

Các triệu chứng bệnh xuất hiện thành từng đợt, lớp này nối tiếp lớp kia.

Dấu hiệu sớm của bệnh là cảm giác nhạy cảm. Đau hoặc như kim châm nhoi nhói, ngứa, rát bỏng trên một vùng da. Cảm giác này chỉ có ở vùng cơ thể chịu ảnh hưởng của dây thần kinh chứa virut bị tổn thương. Thông thường chỉ có một dây thần kinh tủy sống bị virut tấn công. Bệnh nhân bị nhức đầu, đau mình, sốt nhẹ. Sau vài ba ngày thì những mụn rộp xuất hiện trên nền da màu đỏ như phải bỏng. Mụn nước sẽ lan rộng tới một vùng da do dây thần kinh bị bệnh chi phối có thể là thắt lưng, ở cạnh sườn từ xương sống tới xương ức một bên, bàn chân, bàn tay hoặc một bên mặt, da đầu. Điểm đặc biệt là mụn nước thường chỉ ở một phía, ít khi lan qua đường ranh giới giữa thân mình. Lúc đầu mụn nước trong, sau đó thành đục có mủ, lõm ở giữa. Khi mụn nước xuất hiện thì nóng sốt cũng giảm. Mụn nước khô đi sau vài tuần lễ, để lại một lớp vảy. Vảy rụng sau vài tuần lễ. Da sẽ có sẹo tròn màu bạc xếp thành từng nhóm. Nhưng cơn đau trên da có thể vẫn tồn tại do di chứng sau zona.

… Và những biến chứng

Bệnh nhân phải chịu đau đớn ở vùng da bị bệnh liên tục nhiều tháng hoặc hằng năm. Khoảng trên 50% bệnh nhân hơn 70 tuổi bị đau đớn gặm nhấm thể xác và gây stress về tinh thần dai dẳng. Zona hủy hoại tế bào thần kinh tủy sống và làm rối loạn chức năng dẫn truyền tín hiệu từ ngoài da. Bệnh nhân có thể tả nhiều kiểu đau xảy ra kế tiếp hoặc đồng thời. Khi zona gây tổn thương dây thần kinh tam thoa ở mặt, mụn nước sẽ mọc ra trên mặt, trong miệng và mắt. Nếu mụn mọc gần mắt, bệnh nhân cần đi khám ở khoa mắt ngay vì nếu mắt mà bị nhiễm virut thì thị giác có thể bị mất. Nếu tổn thương dây thần kinh số VII sẽ đau tai trong, cảm giác trên mặt tê liệt, vị giác giảm, mắt mờ, mỏi. Một biến chứng nguy hiểm là đau dây thần kinh sau zona, nhất là ở người cao tuổi. Các cơn đau này có khi kéo dài cả năm sau khi vết thương trên da đã lành.

Có cách nào phòng bệnh?

Điều trị zona càng sớm càng tốt, nhất là trong vòng 72 giờ kể từ khi bệnh xuất hiện. Điều trị tích cực có thể thu ngắn thời gian bệnh, ngăn chặn sự tàn phá của virut đối với dây thần kinh và giảm thiểu đau. Các thuốc đặc hiệu chống virut thường dùng là acyclovir, famiclovir, valacyclovir. Có thể dùng thêm các thuốc chống viêm và giảm đau như acetaminophen, ibuprofen. Corticosteroid cũng được dùng để làm vết thương mau lành và giảm đau. Cần giữ vết thương trên da sạch sẽ, che phủ mụn nước với lớp băng vải mỏng để tránh cọ sát với quần áo và phòng bội nhiễm. Bệnh nhân bị đau thần kinh sau zona kéo dài nhiều tháng, hay cả năm phải dùng đến thuốc chống đau như chất opiod, thuốc chống động kinh gabapentin, carbamazepin, thuốc chống trầm cảm elavil. Có thể dùng kem thoa chống đau hoặc lidocain dán trên da, aspirin gel, voltarel gel để giảm cơn đau dây thần kinh, nếu da đã lành hết mụn rộp. Bệnh zona thần kinh (Shingles) hoàn toàn khác với bệnh nhiễm Herpes simplex ở bộ phận sinh dục. Shingles có thể điều trị được với các loại thuốc đặc hiệu chống virut đã nêu trên đây. Kháng sinh không có tác dụng nào đối với virut vì vậy không nên dùng để điều trị, trừ trường hợp bội nhiễm bởi vi khuẩn khác.

Để phòng bệnh, một số nước đã dùng thuốc chủng ngừa Zostavax cho các đối tượng người trên 60 tuổi. Tuy nhiên cũng có những người không nên chủng ngừa gồm: người dị ứng với gelatin, kháng sinh neomycin hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc chủng ngừa; người bị suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV/AIDS, đang uống thuốc ức chế miễn dịch loại steroid, đang trị liệu bằng hóa chất hoặc tia xạ, đang có bệnh lao; có thai. Vaccin có tác dụng bảo vệ khoảng 50% người từ 60 tuổi trở lên và công hiệu lên tới 64% đối với lứa tuổi 60-69 được chủng ngừa.

Tháng Tám 30, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Với người già, có nguy cơ bệnh tim mạch, đái tháo đường, máu nhiễm mỡ cao… nên càng phải được quan tâm nhiều hơn về chế độ ăn. Nhất là các thực phẩm chứa nhiều chất béo, các món ăn phải nấu đi nấu lại nhiều lần… có hại cho sức khỏe.

Tránh các món ăn nhiều dầu mỡ

Đối với người lớn tuổi, việc ăn nhiều chất béo luôn không tốt cho sức khỏe vì đó chính là mầm mống của những căn bệnh mà tuổi già hay mắc phải.

Những thức ăn chứa nhiều dầu mỡ như thịt kho nước dừa, thịt nấu đông, các loại thịt quay, nội tạng động vật (tim, gan, ruột)… đều chứa nhiều cholesterol động vật. Nếu sử dụng nhiều các loại thực phẩm này sẽ làm lượng cholesterol trong máu tăng cao. Khi lượng cholesterol tăng đến một mức không thể kiểm soát thì các cơn đột quỵ tim mạch hoặc tai biến mạch máu não có thể xảy ra, rất nguy hiểm. Thực tế, hàng năm, vào những ngày Tết, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì các cơn tai biến thường tăng cao nên các cụ và người thân trong gia đình cần hết sức chú ý đến vấn đề này.

Ngoài việc hạn chế các món ăn trên, các cụ có thể bổ sung chất béo, đạm động vật từ cá vì cá dễ tiêu hóa, hàm lượng Omega 3 cao. Một tuần, nên bổ sung từ hai đến ba bữa cá và ăn kèm với các loại đậu, muối mè.

Có nên ăn nhiều rau củ quả muối chua?

Các loại dưa cải muối chua, kim chi… thường kích thích vị giác (do có vị chua), nên tạo sự ngon miệng và thèm ăn cho các cụ. Tuy nhiên, loại thực phẩm này được làm chủ yếu từ các loại rau củ quả đã qua quá trình lên men và mất đi lượng vitamin cần thiết, không nên cho các cụ ăn nhiều vì không đảm bảo cung cấp đủ lượng vitamin cần thiết.

Nên chọn các loại rau, trái cây tươi như: cam, bưởi…, cung cấp nhiều vitamin C và giúp tăng sức đề kháng, mau lành vết thương. Những trái cây có màu đỏ như dưa hấu, hồng, đu đủ… cũng là nguồn dồi dào vitamin A.

Kết hợp bổ sung vitamin C và A sẽ hết sức có lợi vì vitamin C giúp hấp thu vitamin A tốt hơn, ngăn ngừa các bệnh về mắt như khô mắt, mỏi mắt, hạn chế bệnh lão hóa về mắt.

Không dùng thức ăn nấu lại nhiều lần

Các món ăn trong mùa đông thường phải nấu đi nấu lại nhiều lần, lượng vitamin mất dần theo mỗi lần nấu, lại đồng thời làm tăng vị mặn cho món ăn. Đối với người già, ăn mặn là “kẻ thù” gây ra các bệnh thận, tăng huyết áp. Do vậy, không nên cho các cụ ăn những thức ăn nấu lại nhiều lần. Thức ăn tốt, đảm bảo vitamin, khoáng chất là phải ăn ngay sau khi nấu, lúc này hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn còn cao.

Cân bằng giữa ăn và uống

Ngoài việc ăn sao cho tốt, đúng khoa học, đảm bảo sức khỏe thì việc uống cũng không nên xem nhẹ. Nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể nên các cụ phải uống nước thường xuyên. Nguồn nước tốt nhất vẫn là nước lọc đun sôi để nguội.

Ăn uống hợp lý, cân bằng là điều quan trọng để giúp các cụ tránh được nguy cơ phát triển bệnh tật, tăng tuổi thọ…

Trong không khí vui tươi, đầm ấm ngày Tết, con cháu sum họp thì tinh thần kích thích vị giác, các cụ có thể ăn được nhiều hơn so với ngày bình thường nhưng đó chưa hẳn là tốt. Nên ăn trong tinh thần thoải mái, giữ mức độ ăn đều đặn, vừa phải, không nên ăn quá no và có thể chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ để tạo cảm giác thích thú khi ăn.

BS. Hồng Hạnh

Tháng Năm 3, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NGƯỜI GIÀ PHỔI CŨNG GIÀ THEO

Viêm phổi là bệnh người già thường gặp. Những người có nguy cơ là người có thể trạng kém suy yếu, gầy còm, nghiện rượu, mắc các bệnh mạn tính, bệnh đái tháo đường và sau khi bị cúm. Bệnh phổi cấp tính cũng là một trong những nguyên nhân tử vong chính của người già.

Tại sao người cao tuổi dễ bị viêm phổi?

Phổi lúc về già bị giảm cả về khối lượng và thể tích, trở nên ít di động. Độ đàn hồi thành phế nang bị giảm và bị giãn hẳn ra. Khi lão hóa dung tích chung bị giảm đặc biệt giảm dung tích sống (DTS) của phổi. Theo tính toán, trên người Việt Nam, DTS của nam giới lúc 25 tuổi là 3,82 lít, lúc 60 – 64 tuổi chỉ còn lại 2,57 lít. Giảm DTS liên quan với giảm khả năng di động của lồng ngực và lực cơ hô hấp cũng như khả năng thông hành của phế quản và độ đàn hồi của phổi. Hậu quả của những biến đổi này sẽ gây nên giảm thông khí tối đa và dự trữ thông khí phổi, cho nên lúc về già dễ xuất hiện khó thở khi hoạt động căng thẳng (gắng sức); sự suy giảm thông khí phổi sẽ đưa đến tích góp nhiều bụi phổi, khó khăn hơn khi muốn khạc nhổ, không tạo đủ áp lực để đưa dị vật ra khỏi phế quản. Tăng nguy cơ bị các bệnh viêm nhiễm phế quản và phổi, cung cấp ôxy cho cơ thể bị giảm. Đồng thời cũng giảm độ bão hòa ôxy máu động mạch. Hơn nữa về già có các cơ chế bù làm tăng chức năng hệ hô hấp, thí dụ thở nhanh làm tăng thông khí phổi. Trong điều kiện nghỉ ngơi những cơ chế này đảm bảo trao đổi khí bình thường giữa phổi và môi trường ngoài. Tuy nhiên khả năng thích nghi và dự trữ của chúng lúc tuổi cao bị hạn chế.

Thủ phạm gây bệnh

Có loại không do vi khuẩn và có loại do vi khuẩn.

– Bệnh phổi không do vi khuẩn: có thể gặp tuy không nhiều viêm phổi và viêm phế quản phổi do Ricketsia, bệnh virut do chim, bệnh phổi do Adenovirus, do các bệnh virut phát ban và nhất là bệnh phổi do mycoplasma pneumoniae. Nguy hiểm hơn cả là bệnh phổi do cúm.

– Bệnh phổi do vi khuẩn: tuy vẫn còn các bệnh phổi do phế cầu nhưng hiện nay cần chú ý hơn đến tụ cầu và liên cầu. Ngoài ra còn có các vi khuẩn gram (-) E.coli… Trên những bệnh nhân dùng kháng sinh và corticoid dài ngày có thể gặp nấm phổi.

Xử trí như thế nào?

Tùy nguyên nhân và tình trạng bệnh. Thể nhẹ có thể chữa trị, theo dõi tại nhà. Các thể nặng phải được điều trị theo dõi tại viện.

– Điều trị nguyên nhân: nguyên nhân thường do các vi khuẩn cư trú ở răng miệng, họng mũi, loại phế cầu khuẩn, hemophilus influenzae… Nguyên tắc là dùng kháng sinh sớm, phổ rộng.

– Điều trị triệu chứng: Dùng các thuốc giảm ho nếu người bệnh ho nhiều, chú ý dùng loại không chứa opium, không có tác dụng kháng histamin có thể gây ngủ, giảm phản xạ ho khạc như catabex, mucitux, silomat… dùng aspirin (pH8), aspegic nếu sốt; khó thở dùng các thuốc chống khó thở và trợ tim mạch.

Chăm sóc người bệnh rất quan trọng: Cho uống nhiều nước giúp loãng đờm dễ khạc và hạ sốt (dung dịch oresol, nước hoa quả, nước rau…); truyền dịch nếu cần; giữ ấm cho bệnh nhân, nơi nằm của bệnh nhân cần thoáng, ấm, khô ráo, không có gió lùa và yên tĩnh; cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp tùy từng giai đoạn bệnh (giai đoạn đầu ăn lỏng hoặc nửa lỏng, sau đó ăn đặc dần).

Phòng bệnh

Như trên đã nói, viêm phổi người già hay gặp ở người có thể trạng kém, mắc bệnh mạn tính sau cúm… do vậy phải tích cực điều trị bệnh mạn tính, bệnh viêm mũi họng, răng miệng. Nếu có điều kiện nên tiêm phòng vaccin chống phế cầu, vaccin đa giá chống cúm. Người bệnh phải tuyệt đối bỏ thuốc lá, thuốc lào, không uống rượu, bia quá mức, giữ gìn sức khỏe tránh để lạnh.

Những biểu hiện viêm phổi ở người cao tuổi

Viêm phổi ở người cao tuổi có đặc điểm lâm sàng là âm thầm không rầm rộ, không điển hình, không rõ ràng. Người bệnh không sốt cao, ít khi rét run, ho ít, nhẹ, khạc đờm không nhiều, thường cũng chỉ như mọi ngày hoặc tăng hơn chút ít nên ít chú ý, người trong gia đình cũng ít quan tâm. Thở có thể nhanh, thở gấp hơn bình thường. Dấu hiệu khó thở thường nổi trội hơn trong viêm phổi; nghe phổi có nhiều ran ẩm rải rác khắp hai phổi, không có biểu hiện của hội chứng đông đặc tập trung ở một thùy phổi. Các tiếng thở bất thường có thể tập trung nhiều hơn ở các thùy dưới của phổi; chụp Xquang phổi có thể thấy nhiều hình ảnh mờ rải rác hoặc tập trung hơn ở vùng đáy phổi nhưng không có hình tam giác thường thấy trong viêm phổi do phế cầu ở lứa tuổi thanh niên và trung niên; xét nghiệm máu thấy số lượng bạch cầu tăng không nhiều, hồng cầu có thể hơi tăng… Các dấu hiệu cần chú ý khác là tình trạng tinh thần có thể suy giảm một cách bất thường nhất là ở những người cao tuổi, có thể lú lẫn, rối loạn tâm thần, rối loạn tiêu hóa, bỏ ăn.

BS. Nguyễn Văn Thịnh

Tháng Năm 3, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG TAI BIẾN THƯỜNG XẢY RA Ở NGƯỜI CAO TUỔI KHI ĐI BỘ

Đi bộ được xem là một phương pháp phòng bệnh, cải thiện sức khỏe. Ai cũng có thể tập được, không cần trang bị dụng cụ ngoài đôi giày. Mọi người, mạnh hay yếu đều phù hợp với môn đi bộ vì tập nó không tốn nhiều sức lực, động tác đơn giản có thể tự điều chỉnh cường độ và thời gian tập luyện. Vậy người cao tuổi (NCT) có nên đi bộ không?

Câu trả lời là rất nên. Bởi, đi bộ giúp tăng cường sức khỏe, làm cho khí huyết lưu thông. NCT rất cần có sự vận động phù hợp với thể trạng, nhẹ nhàng, chậm chạp và liên tục; nó giúp làm giảm nguy cơ cho các bệnh về tim mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, khớp…

Đi bộ giúp cho tinh thần thanh thản, chống lo âu, tránh trầm cảm.

Cần đề phòng các tai biến

NCT thường đi bộ sớm lúc 5 – 6g, khi trời lạnh. Nếu không giữ ấm, đối với người có cao huyết áp sẽ làm cho co mạch, huyết áp cao lên có thể gây tai biến mạch máu não, cảm lạnh, đau nhức khớp, các bệnh tiềm ẩn dễ bộc phát.

Do NCT mắt mờ, tầm nhìn bị hạn chế, lại đi lúc sáng sớm nên dễ va chạm xe cộ đang lưu thông gây tai nạn, hoặc vướng các vật cản trên đường đi như: đất đá, rào chắn… dễ té ngã. Nếu người đi bộ cao tuổi loãng xương dễ bị gãy xương, nhất là gãy cổ xương đùi hoặc gãy xương cẳng tay do chống đỡ.

Người bị viêm đa khớp cấp khi đang trong tình trạng đau cấp đi bộ sẽ làm cho khớp đau nhiều hơn, đẩy nhanh quá trình biến dạng khớp, thậm chí không đi lại được. Lúc này chúng ta phải nghỉ ngơi, khi ổn định quá trình sưng đau mới đi bộ lại từ từ cho cơ thể quen dần.

Người mập đi bộ có thể đẩy nhanh quá trình thoái hóa khớp gối và khớp đốt sống nên chọn phương pháp tập luyện khác giảm tải lên cột sống và khớp gối.

Mọi người phải ngưng đi bộ ngay khi có triệu chứng như: đau gối, đau lưng nhiều, đau ngực, chóng mặt, choáng váng khó chịu, đau đầu, hoa mắt, ra mồi hôi nhiều bất thường, tự nhiên mệt nhiều, vọp bẻ (chuột rút), đau cơ bất thường.

Vài điều cần biết khi đi bộ

Do người đi bộ thường tập luyện vào buổi sáng khi trời còn lạnh, thậm chí rất lạnh, nên cần phải giữ ấm toàn thân. Trước hết, phải khởi động toàn thân tại chỗ từ 15 – 20 phút làm cho cơ thể ấm lên.

Không nên ăn no khi đi bộ, chọn giày cho phù hợp chân, không quá chật, không quá rộng, vớ bằng coton dày.

Đi chậm, đều, nhẹ nhàng từ 5 – 10 phút, rồi nghỉ 5 phút sau đó mới đi tiếp từ 20 – 30 phút, và tùy theo sức của mình mà chọn thời gian thích hợp, không được cố gắng quá sức khi thấy khó chịu.

Giai đoạn cuối trước khi kết thúc buổi đi bộ phải đi chầm chậm. Đi bộ xong phải uống 200ml nước rồi nghỉ ngơi hít thở điều hòa hơi thở.

Khi tập xong không nên tắm nước lạnh ngay vì dễ cảm lạnh và xảy ra các tai biến về tim mạch.

Cuối cùng, người đi bộ nên chọn đường bằng phẳng ít xe cộ lưu thông để đi. Tốt hơn, nên có người tập luyện chung vừa để trò chuyện vui vẻ tăng hiệu quả tập luyện, vừa giúp nhau phát hiện những bất thường có thể xảy ra trong lúc tập luyện.

BS. Đỗ Thùy Linh
Sưu tầm trên SK&DS

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

Đối với người cao tuổi (NCT) thì giấc ngủ là vô cùng quan trọng. Khi bị mất ngủ sẽ kèm theo nhiều điều bất lợi đối với họ.

Ngủ không ngon, giấc ngủ chập chờn hoặc thời gian ngủ ngắn ở NCT có thể gọi là hiện tượng mất ngủ. Mất ngủ ở NCT là một rối loạn thường hay bắt gặp với rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân gây mất ngủ ở NCT có thể phân ra mấy loại sau đây: mất ngủ do tuổi cao, các chức năng của con người bình thường bị suy giảm một cách đáng kể; mất ngủ do bệnh lý; mất ngủ do ảnh hưởng xấu của môi trường hoặc thay đổi môi trường đột ngột đang sinh sống; mất ngủ do chế độ sinh hoạt, ăn, uống không điều độ và mất ngủ do dùng một số thuốc để điều trị một số bệnh nào đó. Các nguyên nhân vừa nêu có thể là đơn độc nhưng có thể là có sự kết hợp của hai hay nhiều nguyên nhân lại với nhau.


Một số bệnh lý có thể làm người cao tuổi khó ngủ hơn

Mất ngủ do chức năng của cơ thể bị suy giảm

Đây là một nguyên nhân mà có thể nói rất khó tránh khỏi. Tuổi tác càng cao thì mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm, trong đó chức năng của hệ thần kinh trung ương là rất nhạy cảm. Tế bào thần kinh trung ương của con người kể từ lúc phôi thai phát triển cho đến khoảng tuổi 25 là hoàn chỉnh. Sau lứa tuổi này thì mỗi ngày có khoảng 3.000 tế bào nơ-ron thần kinh bị hủy hoại và như vậy ngoài ảnh hưởng đến các chức năng khác thì giấc ngủ của NCT cũng không thể không bị ảnh hưởng.

Mất ngủ do bệnh tật

Có rất nhiều loại bệnh làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của NCT, loại hay gặp nhất là đau nhức xương khớp (thoái hóa khớp, bệnh gút…). Bệnh đau nhức xương khớp có thể biểu hiện cả ngày lẫn đêm nhưng hay gặp nhất vẫn là ban đêm làm cho giấc ngủ không sâu, chập chờn và nhiều khi đau nhức không thể ngủ được, nhất là khi thay đổi thời tiết.

Bệnh về tim mạch: hay gặp nhất là bệnh tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim (thiểu năng mạch vành) làm cho NCT hay bị đau tức ngực, khó chịu và nhiều khi còn tỏ ra lo lắng làm ảnh hưởng rất nhiều đến giấc ngủ.

Bệnh về đường hô hấp: NCT hay gặp một số bệnh về đường hô hấp nhất là bệnh giãn phế quản, hen phế quản… gây ho nhiều, khó ngủ được. Các bệnh này thường xuất hiện nặng về ban đêm, nhất là lúc có áp thấp nhiệt đới, gió mùa đông bắc, ẩm ướt…

Các bệnh về đường tiêu hóa: bệnh đường tiêu hóa ảnh hưởng nhiều nhất đến giấc ngủ là bệnh về dạ dày và bệnh viêm đại tràng mạn tính. NCT nếu mắc một trong 2 bệnh này thì ảnh hưởng rất lớn đến giấc ngủ, nhiều người bị đau suốt đêm không thể nào chợp mắt được.

Các bệnh về tiết niệu, tiền liệt tuyến, đái tháo đường cũng là một trong các tác nhân làm cho người cao tuổi mất ngủ. Các bệnh về đường tiết niệu hay gặp ở NCT là u xơ tiền liệt tuyến, đái tháo đường, sỏi tiết niệu (sỏi thận, bàng quang, niệu quản, niệu đạo), thường hay đi tiểu đêm gây mất ngủ hoặc giấc ngủ không sâu, không ngon.

Mất ngủ do ảnh hưởng xấu của môi trường đang sinh sống

Môi trường sống có tác dụng rất lớn đến đời sống con người. Môi trường trong sạch, không bụi bặm, ít tiếng ồn góp phần đáng kể trong cuộc sống của NCT, làm cho NCT sống khỏe mạnh, vui vẻ và luôn làm được những việc có ích cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Tuy vậy, có một số yếu tố hay gặp như: nhà chật chội, đông người, nhiều tiếng ồn ào, mất vệ sinh… làm cho NCT rất khó ngủ.

Mất ngủ do ăn, uống không điều độ

NCT nếu ăn, uống điều độ thì ngoài việc đảm bảo cho sức khỏe tốt còn có tác dụng rất hữu ích trong giấc ngủ làm cho giấc ngủ ngon, sâu dẫn đến tinh thần luôn được sảng khoái, hồ hởi, phấn chấn và sống một cuộc sống lạc quan hơn. Nếu ăn uống quá no, uống nhiều nước trước khi đi ngủ hoặc uống nhiều bia, rượu; ăn nhiều chất kích thích thì ảnh hưởng xấu không nhỏ đến giấc ngủ.

NCT nên làm gì để ngủ tốt?

Tùy theo từng hoàn cảnh của từng cá thể mà tự điều chỉnh một cách hài hòa để làm sao cho giấc ngủ tốt. Hầu hết NCT đều có sổ khám bệnh, vì vậy nên đi khám bệnh định kỳ để biết được tình trạng sức khỏe của mình. Qua việc khám bệnh, bác sĩ sẽ cho biết tình trạng sức khỏe hiện tại và có nhiều lời khuyên bổ ích. Khi phát hiện có bệnh, đặc biệt là bệnh mạn tính, phải tuyệt đối tuân theo chỉ định và tư vấn của bác sĩ, không tự tiện mua thuốc hoặc nghe theo lời mách bảo của bạn bè để tự điều trị (bởi vì cả thuốc Tây y lẫn Đông y ngoài tác dụng chính còn vô số tác dụng phụ, trong đó có nhiều loại ảnh hưởng đến giấc ngủ).

Ăn uống phải điều độ và không nên kiêng khem quá mức (tùy theo từng loại bệnh mà có sự tư vấn của bác sĩ để có sự kiêng thức ăn, nước uống cho phù hợp) và cũng không nên quá lạm dụng trong khâu ăn, uống. Ngoài các loại bệnh bị ảnh hưởng do ăn, uống thì nhiều loại thức ăn, nước giải khát có cồn ảnh hưởng rất lớn đến giấc ngủ nếu dùng không phù hợp. Ví dụ không nên uống cà phê, trà đặc vào buổi tối; không nên uống quá nhiều rượu, bia trước khi đi ngủ.

Tập thể dục nhẹ nhàng là việc làm hết sức cần thiết cho giấc ngủ của NCT. Hiện nay, có nhiều hình thức tập thể dục áp dụng cho NCT như: đi bộ, chơi cầu lông, quần vợt, bơi, tập thể dục dưỡng sinh… nhưng có lẽ thông dụng nhất, không tốn kém, dễ áp dụng là đi bộ. Tuy vậy, đi bộ cũng phải có sự hiểu biết cơ bản để đạt được mục tiêu là nâng cao sức khỏe và ăn ngon, ngủ tốt. Vì vậy, phải tùy theo sức mình mà có điều chỉnh, mỗi ngày nên đi bộ tổng thời gian không quá 60 phút, không nên đi bộ một lúc mà chia ra làm 2- 3 lần, mỗi lần nên không quá 30 phút là vừa. Đối với những NCT có bệnh về tim mạch như: cao huyết áp, mạch vành cần đi bộ chậm không được chạy, nhảy hoặc vận động mạnh. Không nên đi bộ vào lúc nhiệt độ lạnh quá, nóng quá, mưa, gió mạnh mà nên chọn thời điểm thích hợp nhất cho bản thân mình như chập tối, sáng sớm…

Phòng ngủ của NCT nên luôn luôn sạch sẽ, thoáng mát, hạn chế người qua lại và ít tiếng ồn.

PGS.TS.BS. BÙI KHẮC HẬU

Tháng Tư 13, 2010 Posted by | Chăm sóc người cao tuổi | Bạn nghĩ gì về bài viết này?