Helenkhanhvy's Blog

Just another WordPress.com weblog

KHU DU LỊCH PHẬT BÀ NAM HẢI

Bạc Liêu ngày nay đang từng bước thay da đổi thịt và luôn để lại ấn tượng khó phai trong lòng du khách thập phương bởi những kiến trúc đặc sắc như tháp cổ Vĩnh Hưng và chùa Xiêm Cán, những di tích hào hùng trên cánh đồng Nọc Nạn và đền thờ Bác thiêng liêng… Và thật thiếu sót nếu không kể đến khu du lịch Phật Bà Nam Hải, một thế giới tâm linh đã hòa vào cảnh sắc thiên nhiên.

Thành phố Bạc Liêu có một cửa biển, đó là cửa biển Nhà Mát thuộc phường Nhà Mát. Khu Quan Âm Phật Đài (Phật Bà Nam Hải) nằm trên phường này. Được xây dựng từ năm 1973, khu Phật Bà Nam Hải là một công trình kiến trúc – văn hóa – tâm linh nổi bật nhất ở Bạc Liêu. Hằng năm, có hàng ngàn lượt du khách đến tham quan, thưởng ngoạn và bày tỏ lòng thành kính của mình. Tháng 3 hằng năm đều diễn ra lễ hội Vía Bà, kéo dài trong 3 ngày. Đây là một lễ hội lớn và rất nghiêm trang, thu hút nhiều du khách nhất.

Tượng Phật Bà cao 11m, xoay mặt ra biển Đông, trở thành trung tâm giữa đất liền và biển lớn. Bát ngát cây xanh nước mặn bao lấy bờ biển tạo nền cho bức tượng trắng đứng sừng sững trên đài sen hồng. Du khách đến đây sẽ cảm nhận được sự bình yên tỏa lan từ khuôn mặt dịu hiền, phúc hậu của Phật Bà. Theo tín ngưỡng của những người đi biển, Phật Bà đã phù hộ và chở che cho họ rất nhiều và những gì họ có được là cũng nhờ một phần vào việc họ tin và thành kính đối với thế giới tâm linh.

Ngoài ra, du khách còn có thể chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của cổng tam quan ngay khi bước vào. Hai bên Phật đài là hai dãy nhà rộng lớn, được xây theo kiến trúc của các ngôi chùa. Gian nhà giữa để thờ các vị Phật, có trải thảm cho du khách vái lạy cầu an. Hai bên có những gian nhà nhỏ, vừa là nơi để du khách nghỉ chân vừa là nơi ghi lại quá trình xây dựng và phát triển của khu du lịch. Điều thú vị là ban quản lý khu du lịch đã làm một chương trình phát thanh về quá trình phát triển và những sự tích của khu Phật Bà Quan Âm để du khách có thể nghe khi ngồi nghỉ mát. Và một nhà ăn với các món chay phục vụ thực khách.

Không gian của khu du lịch rất thoáng. Những luồng gió biển thổi vào luôn làm dịu mát sự mệt mỏi cho du khách đường xa. Cảnh biển ngút ngàn càng tôn thêm sự thiêng liêng cho bức tượng. Gần đó là những cửa sông với dãy cây xanh ven bờ hút hồn du khách. Các dịch vụ ăn uống, quà lưu niệm luôn phục vụ suốt ngày đêm. Du khách có thể mang về những bức tranh, những cái nón trầm do tự tay người dân Bạc Liêu làm, cho người thân, bạn bè để làm kỷ niệm. Và thú vị là thưởng thức những món đặc sản Bạc Liêu trong hàng quán của người dân quanh khu du lịch.

Cách Thành phố Bạc Liêu 8km, du khách có thể đến với khu du lịch Quan Âm Phật Đài dễ dàng bằng taxi, xe ôm hay các xe dịch vụ. Trên đường đi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc đầy thú vị của thiên nhiên và con người vùng biển. Nếu khách tham quan muốn ở lại để khám phá sự độc đáo của nơi này thì đã có sự phục vụ tận tình của các nhà nghỉ và khách sạn trong và ngoài thành phố.

Đời sống tâm linh là một điều không thể thiếu đối với mỗi người. Khu Phật Bà Nam Hải đã và đang đáp ứng nhu cầu đó kết hợp với tham quam du lịch một cách thành công. Nếu đến đây, bạn sẽ tìm thấy được một nơi chốn bình yên, thanh thản cho riêng mình, khám phá được nhiều điều độc đáo và thú vị trong các công trình kiến trúc, trong cách ứng xử và những nét văn hóa đậm chất Phật giáo.

Một số hình ảnh về khu du lịch phật bà Nam Hải

This slideshow requires JavaScript.

Tháng Bảy 8, 2011 Posted by | Bạc Liêu xưa và nay | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN GIÓ BẠC LIÊU

Sáng ngày 9 tháng 9 năm 2010, Công ty TNHH xây dựng – thương mại – du lịch Công Lý (gọi tắt là Công ty Công Lý) long trọng tổ chức lễ khởi công xây dựng nhà máy điện gió. Dự lễ khởi công có các đồng chí Lê Phước Thọ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng ban Tổ chức Trung ương; Bộ Công thương và lãnh đạo các Vụ thuộc Văn phòng Chính phủ. Về phí tỉnh Bạc Liêu có các đồng chí Phan Quốc Hưng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh; cùng các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, khách mời từ các tỉnh trong khu vực ĐBSCL

Dự án xây dựng Nhà máy Điện gió tỉnh Bạc Liêu do Công ty TNHH Xây dựng – Thương mại và Dịch vụ Công Lý làm chủ đầu tư, được triển khai xây dựng tại khu vực ven biển thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; với mục tiêu đầu tư xây dựng và quản lý một Nhà máy điện độc lập (IPP), sử dụng năng lượng gió để phát điện, hòa với lưới điện quốc gia thông qua hợp đồng mua bán điện dài hạn với Tập đoàn Điện lực Việt Nam; đồng thời kết hợp phục vụ du lịch sinh thái và nuôi trồng lâm thủy sản, tạo thêm công ăn việc cho người lao động, góp phần tăng thu ngân sách của địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bạc Liêu.
Dự án được xây dựng mới toàn bộ, có quy mô công suất là 99MW, điện năng sản xuất khoảng 310 triệu KWh/năm. Các hạng mục xây dựng gồm:

+ Lắp đặt 66 turbine gió, công suất mỗi turbine là 1,5MW. Các trụ turbine được bố trí dọc theo đê biển Đông (khu vực bãi bồi, phía ngoài rừng phòng hộ), kéo dài từ phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu đến giáp ranh huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, được nhập khẩu từ Mỹ
+ Lắp đặt 01 trạm biến áp 22/110KV-2x60MVA và đường dây 110KV-2 mạch dài khoảng 15Km để đấu nối với lưới điện Quốc gia 110KV Bạc Liêu;
+ Xây dựng nhà văn phòng, nhà điều hành, nhà phân phối và điều khiển, nhà xưởng, kho bãi; xây dựng đường giao thông vào dự án, đường giao thông nội bộ, hệ thống điện, hệ thống mương cáp điện, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điều khiển và hệ thống bảo vệ, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước thải và xử lý nước thải cho toàn dự án, khu kiến trúc du lịch sinh thái.
Tổng diện tích sử dụng đất của dự án khoảng 500 ha.
Tổng mức đầu tư của dự án là 4.509.379.891.000 đồng (Bốn nghìn, năm trăm lẻ chín tỷ, ba trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng); trong đó:
+ Vốn tự có của chủ đầu tư và các nguồn huy động khác: 15%, tương đương 676 tỷ đồng.
+ Vốn vay 85%, tương đương với 3.833 tỷ đồng.
– Thời gian hoàn vốn dự kiến: 14 năm, 07 tháng.

Dự án do đơn vị tư vấn – Công ty cổ phần Phát triển kỹ thuật xây dựng (TDC) lập; đã được các Sở, Ngành chức năng tỉnh và các Bộ, Ngành Trung ương góp ý kiến thẩm tra. Ngày 29 tháng 7 năm 2010, Văn phòng Chính phủ có văn bản số: 5263/VPCP-KTN truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đồng ý bổ sung dự án Nhà máy điện gió tỉnh Bạc Liêu vào Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và chấp thuận cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại – Dịch vụ Công ty thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư dự án xây dựng Nhà máy điện gió tỉnh Bạc Liêu.

Trên cở sở đó, Chủ đầu tư đã phê duyệt dự án và Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu cấp Chứng nhận đầu tư trong tháng 8/2010 với thời gian thực hiện là 24 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; thời hạn hoạt động của dự án là 49 năm.
– Về Nhà thầu cung cấp thiết bị và thi công do Tập đoàn General Electric – Hoa Kỳ làm Tổng thầu.

Với kế hoạch xây dựng hoàn thành dự án điện gió trong 36 tháng, ông Tô Hoài Dân, Tổng giám đốc Công ty Công Lý, hạn quyết tâm: ” Việc vận chuyển thiết bị và thi công lắp đặt turbine gió trên vùng bãi bồi ven biển tuy gặp khó khăn, nhưng toàn thể cán bộ, công nhân viên công ty sẽ đoàn kết một lòng, phấn đấu cao độ để xây dựng hoàn thành nhà máy điện gió đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng theo yêu cầu”

Phát biểu tại lễ khởi công xây dựng nhà máy điện gió, đồng chí Võ Văn Dũng, chủ tịch UBND tỉnh, khẳng định: ” Dự án điện gió ngoài việc làm tăng nguồn thu ngân sách, giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương, còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề về năng lượng phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là phát triển du lịch. Dự án này đã thật sự đánh thức tiềm năng biển của Bạc Liêu nói riêng và các tỉnh ĐBSCL nói chung. Mặt khác, dự án điện gió sẽ làm sôi động một vùng đất mà từ trước đến nay ít được các nhà đầu tư quan tâm. Do đó, khi nhà máy điện gió xây dựng hoàn thành, vùng biển Bạc Liêu sẽ nhộn nhịp, không còn hoang vắng. Cùng với các dự án đầu tư phát triển du lịch khác, nơi đây sẽ trở thành một trong những trung tâm du lịch của khu vực ĐBSCL”.

Tháng Chín 13, 2010 Posted by | Bạc Liêu xưa và nay | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

ĐỒNG HỒ ĐÁ

Ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Bạc Liêu hiện vẫn còn lưu giữ được chiếc đồng hồ đá của nhà bác vật đầu tiên của Việt Nam, ông Lưu Văn Lang. Người ta kể lại rằng chiếc đồng hồ này được ông Lang làm tặng cho tỉnh trưởng tỉnh Bạc Liêu trong thời Pháp thuộc, vào đầu thế kỷ XX.

Đồng hồ rất đặc biệt, được xây bằng gạch và xi-măng, không dùng bất kỳ máy móc nào, được đặt hướng về phía Đông ở trước dinh Tỉnh trưởng. Trên bề mặt đồng hồ kẻ 12 chữ số La Mã, phân định đều nhau; giữa mặt đồng hồ xây một cái gờ nhô lên. Cái gờ này giới hạn ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào các con số. Phần ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào có màu tối, phần còn lại có màu sáng rõ hơn (do mặt trời trực tiếp chiếu). Nơi tiếp giáp giữa hai màu đó là điểm giờ trong ngày. Sáng sớm, mặt trời vừa mọc thì dọi ngay số 7; mặt trời dần cao đến độ nào thì bóng rọi dần lên các con số chỉ giờ, cho đến khi đứng bóng thì chỉ đúng số 12. Trời trở về chiều, bóng lại nghiêng theo đúng thứ tự thời khắc. Đến khi bóng hạ dần tới bậc tam cấp thấp nhất thì mặt trời đã lặn. So với đồng hồ ngày nay, đồng hồ đá chỉ sai lệch độ 5 phút. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể ông Lang đã theo cách thức của đồng hồ Thái Dương (loại đồng hồ làm bằng những dụng cụ thô sơ xuất hiện từ thủa xa xưa) để tạo nên chiếc đồng hồ đá độc đáo này.

Di vật chiếc đồng hồ đá gợi nhớ lại cuộc đời của một nhà bác vật lớn của Nam bộ. Ông Lưu Văn Lang sinh ngày 5-6-1880 (mất ngày 3-8-1969), tại làng Tân Phú Đông, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Ông được tiếp thu nhiều nền văn hóa khác nhau khi thủa nhỏ được học chữ nho, đến 10 tuổi học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Do có trí thông minh thiên phú, ông Lang được cấp học bổng lên Sài Gòn học trường Tây Chasseloup Laubat và năm 17 tuổi thi đậu tú tài 2 của Pháp với số điểm xuất sắc, được học bổng sang Pháp học École Centrale de Paris, nơi đào tạo kỹ sư lớn nhất nước này. Năm 1904, ông tốt nghiệp kỹ sư hạng ưu (đứng thứ 3 trong số 250 người!) và được coi là kỹ sư đầu tiên của Nam bộ lúc bấy giờ, mà người Đồng bằng sông Cửu Long quen gọi là bác vật. Sau khi ông Lang về nước, nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam liền cử ông qua tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để tham gia xây dựng tuyến đường xe lửa nối liền Trung Quốc với Đông Dương.

Từ 1909-1940, ông làm việc ở Sở Công chánh Sài Gòn, nổi tiếng tài giỏi và rất liêm khiết. Trong khoảng thời gian này, ông Lang nhiều lần được điều về công tác ở Bạc Liêu, để theo dõi các công trình xây dựng ở đây và để lại một giai thoại thú vị: Khi ông Lang xuống Bạc Liêu thì công trình xây cầu Long Thạnh do Pháp xây dựng sắp xong. Ông Lang lấy cây gậy khõ vào thành cầu rồi khẳng định với viên kỹ sư Pháp rằng một tháng nữa cầu sẽ sập (có người bảo ông còn nói chính xác cả giờ cầu sập). Quá bất ngờ, viên kỹ sư Pháp phẫn nộ, nhưng rồi cũng phải bái phục kỹ sư người Việt bởi quả nhiên chiếc cầu sập sau đó đúng 1 tháng. Từ đó, người dân ở đây gọi chiếc cầu Long Thạnh là Cầu Sập cho đến tận bây giờ. Tỉnh trưởng người Pháp ở Bạc Liêu thời đó rất khâm phục tài năng của ông Lang và đối đãi rất hậu. Đáp lại tình cảm đó, ông Lang đã làm chiếc đồng hồ đá kể trên để làm quà tặng.

Năm 1994, việc xây dựng các ngôi nhà cao tầng xung quanh khiến chiếc đồng hồ đá hơi bị vênh. Bảo tàng Bạc Liêu đã cho kích lại để đảm bảo tính chính xác của nó. Giờ đây, chiếc đồng hồ đá hoạt động gần như chuẩn với hồi mới xây dựng. Thỉnh thoảng, sinh viên ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Bạc Liêu có làm “vệ sinh” cho đồng hồ bằng cách cạo rêu và sơn lại các con số. Tuy nhiên, do cây cối xung quanh quá nhiều nên ánh sáng mặt trời khó len vào được chiếc đồng hồ đá trong khi nó chỉ phát huy tác dụng khi có ánh nắng mặt trời. Thiết nghĩ Bảo tàng Bạc Liêu nên khắc phục khuyết điểm này và ngành du lịch địa phương nên đưa chiếc đồng hồ đá này vào tua tham quan du lịch để giới thiệu một dụng cụ xem giờ có một không hai ở nước ta.

Tháng Năm 3, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG BỨC ẢNH ĐẸP

Tháng Tư 22, 2010 Posted by | Bạc Liêu xưa và nay | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA ÔNG

CHÙA QUAN THÁNH – CHÙA QUAN ĐẾ

Chùa tọa lạc tại phường 2, TXBL. Được xây dựng năm 1835, theo kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Quan Thánh cổ miếu thờ Quan thánh Đế Quân, tức Quan Vân Trường thời Tam Quốc nên người địa phương thường gọi một cách tôn kính là Chùa Ông. Trong chánh điện có Quan Công, Quan Bình và Châu Xương mặc giáp trụ uy nghi. Người Hoa thờ Ông tượng trưng cho tinh thần “trung, hiếu, tín, nghĩa”. Người Hoa thường đến chùa Ông cầu xin Ông phù hộ phước lộc, bình an, may mắn. Hiện nay, chùa còn giữ rất nhiều hoành phi, câu đối chạm nổi chữ Hán sơn son thiếp vàng, giá binh khí thập bát ban võ nghệ bằng gỗ quý đen tuyền.

Tháng Tư 21, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA GHÔSITARAM

Từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 năm 2010, tại chùa Ghôsitaram đã diễn ra lễ kiết giới sima (khánh thành) ngôi chánh điện chùa Khmer lớn nhất Việt Nam. Ngôi chùa tọa lạc tại ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu – cách thị xã Bạc Liêu không đầy 5km về phía Đông

Tại lễ khánh thành, chùa Ghôsitaram đã đón tiếp hàng chục ngàn lượt khách tham quan, cầu phước, cúng dường. Cả ngày lẫn đêm, từng dòng người từ khắp nơi trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn tiếp tục đổ về chùa Ghôsitaram để tận mắt chiêm ngưỡng ngôi chánh điện đẹp nhất khu vực Nam Bộ và chứng kiến lễ kiết giới có ý nghĩa thiêng liêng do nhà chùa tổ chức. Đại diện hơn 200 chùa Khmer trong khu vực ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ là khách mời dự lễ hội này.

Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, chánh điện là công trình thiêng liêng, là ngôi nhà dùng để thờ phụng đức Phật nằm ở trung tâm chùa, quay mặt hướng đông. Trong hầu hết các ngôi nhà trong chùa thì chánh điện là công trình kiến trúc đặc sắc và nổi bật nhất. Với đồng bào Khmer, đến chùa không chỉ để chiêm ngưỡng nét đẹp lộng lẫy của công trình chánh điện mà quan trọng hơn là họ được cúng dường, cầu may, tích phước tại lễ kiết giới ít có trong mỗi đời người.

Thượng tọa Trang Phương Thanh, Phó trụ trì chùa Ghôsitaram cho biết:

Ngôi chánh điện đầu tiên của chùa được xây dựng vào năm 1860, do Hòa thượng Hao Ny đặt viên đá đầu tiên xây dựng và chính ngài là vị trụ trì đầu tiên của chùa.

Đến năm 2000, ngôi chánh điện ấy đã không còn an toàn cho việc sinh hoạt lễ hội Phật giáo. Ngày 11/11/2001, chánh điện chính thức được khởi công xây mới trên diện tích 427,5m2 với chiều cao 36,3m.

Cùng với xây dựng chánh điện, tín đồ, phật tử của chùa cũng quyết tâm xây thêm các công trình phụ khác gồm: đôi cột phướng, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, nhà để ghe ngo… với tổng tiền đầu tư trên 10 tỷ đồng.

Kết quả của sự thành công này là sự nỗ lực to lớn của các nhà sư, tín đồ phật tử của chùa đã bỏ nhiều công sức, mồ hôi, của cải. Sự thành công đó bao gồm nhiều yếu tố cộng lại trong quãng thời gian gần 10 năm trời.

Toàn bộ công trình được xây dựng theo kiến trúc cổ kính kết hợp hài hòa với kiến trúc hiện đại, mang tính hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc. Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc.

Bên ngoài và phía trong được điêu khắc tỷ mỷ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam Tạng Kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ và đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghệ nhân Danh Sà Rinh cho biết: “Để chạm trổ hoàn thành tất cả đường nét, hoa văn nghệ thuật cho ngôi chánh điện này, chúng tôi đã bỏ thời gian khoảng 4 năm ròng”. Theo ban quản trị chùa, kinh phí xây dựng chánh điện và các công trình phụ sử dụng từ nguồn vốn của chùa, của các nhà hảo tâm và vốn hỗ trợ của Đảng, Nhà nước.

Nhắc tới chùa Ghôsitaram, người ta không chỉ nghĩ đến các giá trị nghệ thuật thể hiện qua mỗi công trình mà ở đó còn là cái nôi của phong trào tu học trong giới sư sãi. Ngay từ những năm đầu 1980, chùa Ghôsitaram đã trở thành “trường chùa” đầu tiên của tỉnh dưới sự gây dựng của Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì chùa. Cũng chính nơi đây đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh trong tỉnh và khu vực đang nối gót nhau cống hiến xã hội. Vì nhà chùa không chỉ là địa chỉ tu học, rèn đức luyện tài cho giới nhà sư mà có cả các lớp học bổ túc văn hoá cấp THCS, THPT đặt dưới sự quản lý của Trung tâm GDTX huyện Vĩnh Lợi. Ngoài ra, chùa Ghôsitaram còn là ngôi chùa có số lượng tín đồ trong tỉnh, từ Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Tây Ninh… đến đây tu học đông nhất với khoảng 70-80 vị mỗi năm.

Sự ra đời của ngôi chùa Ghôsitaram đã cho thấy ý nghĩa thiết thực, đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng dân tộc Khmer trong tỉnh và trong vùng. Hiện tại và tương lai, chùa Ghôsitaram vẫn mãi là điểm sáng tô thắm nhiều hơn cho nền văn hóa, cho nét đẹp tín ngưỡng của đồng bào Khmer với phương châm “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”. `

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

TỪ PARIS CẬU BA ĐIỆN SẼ ĐIỆN VỀ THÁNG TỚI
Xứ Bạc Liêu – Ông Hội đồng đổi mới cửa nhà

Mấy ngày nay, Nhà Lớn thật là rộn rịp. Nhà Lớn là tên thiện hạ đặt cho tòa nhà nguy nga nằm dọc bờ sông Bạc Liêu, cách cầu Quay vài trăm thước. Đây là biệt thự lầu, kiến trúc tối tân, cất theo kiểu nhà Tây trên Sài Gòn. Ai đi ngang qua cũng phải ngắm nhìn và trầm trồ khen đẹp. Tòa nhà này làm cho các tham biện chủ tỉnh Tây cũng phải ganh tỵ so với dinh chủ tỉnh, nó chỉ thua về diện tích, nhưng ăn đứt hình dáng bên ngoài và trang trí nội thất bên trong. Đây là nhà của ông Hội đồng Trạch, đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu. Mấy tiếng “đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu” chưa giúp các bạn hình dung được cơ nghiệp của ông Hội đồng, cần giở sổ bộ điền đất để có vài con số cụ thể.

Mười lăm đại điền chủ đứng đầu trong tỉnh Bạc Liêu là vài người Việt Nam bên cạnh đa số là người Tàu và tám người Pháp. Hội đồng Trạch – Trần Trinh Trạch – chiếm số một với 110000 mẫu ruộng và nhiều sở ruộng muối nữa. Đứng số 2 là Vưu Tung với 75000 mẫu ruộng, Châu Oai đứng hạng ba với 40000 mẫu, Cao Triều Phát, lãnh tụ Cao Đài đứng hạng tư trước Hùynh Hữu Phước, kế tới Quách Ngọc Đống. Tám chủ điền Tây xếp hành ở sau với những tên Humelin, Grégoira, Gressier, Éméry…

Nhà Lớn rộn rịp về bức điện Cậu Ba từ Paris đánh về. Cậu Ba cho biết cậu đã “thành tài” và đang đáp tàu về nước. Chiếc Aramis sẽ cập bến Nhà Rồng vào tuần tới đây. Ông Hội đồng giở lịch xem ngày: còn đúng một tuần nữa thằng con cưng của ông sẽ về. Phải sửa soạn lên Sài Gòn rước nó. Rồi phải làm tiệc tùng trước cúng kiếng ông bà đã phù hộ nó đi tới nơi về tới chốn, học hành đỗ đạt làm rạng rỡ ông bà cha mẹ, sau đãi đằng bà con và các vị tai mắt trong tỉnh để họ biết dòng họ Trần Trinh Trạch xứng đáng là danh gia vọng tộc.

Hội đồng Trạch có ba người con trai nhưng chỉ cưng nhất nhà là cậu Ba. Tại sao? Cậu Hai – Trần Trinh Đinh gọi là cậu Hai Đinh. Cậu Ba tên Trần Trinh Qui, gọi là Ba Qui. Ông Trạch khoái đặt tên con theo giống thủy tộc vì ông là Trạch, con ông phải là cua đinh, rùa (qui). Đứa con trai út cũng mang tên một loài sống dưới nước nhưng lại được gọi là cậu Tám Bò vì thói quen bò xuống lầu để đi la cà tán gái trong đêm. Cậu Hai Đinh học hành cũng khá, đậu Đíp lôm rồi học ban tú tài nhưng ông hội đông gọi về trông coi điền đất giúp ông. Theo ông thì “dân cậu” chỉ cần học tới đó thôi, miễn đủ sức nói tiếng Tây giòn rụm như bẻ củi cho mấy thằng Tây trọng nể là được rồi. Học nhiều, dẫu kỹ sư, bác sỹ cũng kiếm tiền không nhiều bằng mấy ông chủ điền. Cậu Hai Đinh nghe lời ông Hội đồng bỏ học về trông coi điền đất, Cậu sớm thấy làm chủ điền không nhàn như thiên hạ nghĩ, bởi vì đến mùa, phải đấu trí ác liệt với đám “chủ chành”. Chủ chành là những người Tàu chuyên mua lúa gạo các tỉnh miền Tây, chở ghe chài lên Chợ Lớn bán, Mua rẻ bán mắc là nghề của chủ chàn. Bán hớ một chút là mất bạc ngàn bạc muôn. Cho nên phải cho người thân tín dòm ngó đám “chệt chành” lân la vô đất điền gạ tá điền bán lúa non. Đó là thủ đoạn cho vay tiền để nhà nông mua lúa giống, mua phân, tới mùa phải bán lúa rẻ cho chúng. Do cạnh tranh ráo riết từng ngày từng giờ với “chệt chành” mà cậu Hai Đinh quyết định nhờ tới nàng tiên nâu. Làm vài điếu thuốc phiện là tâm trí minh mẫn lạ thường, tình hình rối ren cách mấy cũng có cách giải quyết thần tình. Cậu Hai sắm bàn đèn, nằm nhà hút chớ không tới các tiệm hút ngoài chợ. Các tiệm này có bộ mặt đặt biệt là cánh cửa gió gắn kính đầy màu lục để lọc ánh sáng bên ngoài. Bước vô trong là lạc vào một thế giới khác hẳn, một thế giới mờ mờ, thơm tho. Các đi-văng gõ mát rượi với những chiếc gối sành cùng màu lục dịu mắt như mời mọc bạn nằm xuống, kéo vài hơi cho tỉnh người sau một ngày vật lộn với đời. Trước cửa tiện có gắn hai chữ RO tức Régie Opium, với nghĩa là công quản thuốc phiện. Hai chữ này đối lập với RA (Régie Alcool: công quản rượu trắng) gắn ở các tiệm bán rượu công xi.

Nhờ hút đầy đủ mà cậu Hai Đinh mập tốt, dáng người bệ vệ, mặt vuông chữ điền, Cậu thích mặc xà rông, chỉ khi nào có khách mới xỏ bộ pyjama vô cho phải phép. Mợ Hai lớn ở riêng. Nhà ở gần Cầu số 3 đường đi Vĩnh Châu. Cậu Hai ở với mợ Hai nhỏ, một thiếu phụ có đời chồng trước là người Miên làm tài xế cho ông hoàng Sihanouk bên Nam Vang. Ngoài ra cậu Hai còn có một cô vợ bé ngưới Cù Lao Giêng xinh đẹp như phần lớn các cô gái miệt vườn.

Nhà cậu Hai cũng rất bề thế ở xóm làng, kế bên có nhà máy xay lớn nhất tỉnh. Cậu Hai đã “an bài” nên ông HỘi đồng dồn hết tâm trí cho cậu Ba Qui.Cậu Ba đậu Đíp lôm rồi, một hai đòi đi Tây. Ông Hội đồng nói:

– Muốn lấy bằng cấp tú tài thì lên Sài Gòn học. Tao xin cho mầy vô trường Tây dễ dàng, Đi qua Tây làm chi cho xa xôi, tốm kém. Cậu Ba cự nự:

– Nhà mình bạc chứa cả kho mà ba hà tiện làm chi ba? Để cho con một bụng chữ còn hơn là để mấy chục ngàn mẫu ruộng. Học Chasseloup trên Sài Gòn thì thường quá! Có gì đáng hãnh diện đâu ba? Nếu ba cho con qua Tây học thì thiên hạ khắp nơi trong xứ Nam Kỳ lục tỉnh nầy ai cũng kính nể ba. Chừng con học thành tài, con kéo về một cô vợ đầm thì dòng họ Trần Trinh mình vang danh bốn biển!

Ông Hội đồng giẩy nẩy:

– Chớ có làm xằng! Muốn đi Tây thì tao cho đi Tây, mà cấm ngặt mầy không được cưới vợ đầm, Tao với má mầy chữ nghĩa không đầy lá mít, làm sao nói chuyện với con dâu “đầm hái nho” được?

Cậu Ba muốn gì được nấy, vui vẻ nói:

– Ba chịu cho con đi Tây rồi phải không? Còn chuyện lấy đàm làm vợ thì ba yên chí lớn đi! Con không dại như mấy cha trạng sư, bác vật võng về mấy bà vợ “đầm hái nho” đâu! Ba biết tại sao họ cưới vợ đầm mà xấu như ma lem không? Có gì khó hiểu đâu! Các cha đó vốn là học trò khó, kiếm tiền đóng học phí, trả tiền nhà trọ là cạn túi. Đâu có dư tiền để đi chơi bời ở các nhà hàng. Cho nên sẵn mấy cô bồi phòng, tha hồ ma chọc ghẹo, mà trai gái. Mấy con bồi phòng này là dân nhà quê lên Kinh thành Ánh Sáng để kiếm việc là, vừa nhẹ nhàng, vừa văn minh, vớ được các ông cử nhân tấn sĩ An Nam, dễ dầu gì các nàng buông tha. Vậy là các trạng sư bác vật “dính chấu”…

Ông Hội đồng cười hả hê. Ông hài lòng có thằng con thông minh hơn người. Nó biết nói như vậy thì ông yên chí lớn.

Thấm thoắt mà đã ba năm. Cậu Ba đã “thành tài” và sắp trở về “vinh quy bái tổ”. Chỉ còn một tuần nữa thôi. Một mặt ông Hội đồng cho sửa soạn nhà cửa cho trang hoàng đẹp đẽ, một mặt ông sẽ sắm một chiếc xe hơi mới thay chiếc xe cũ nhân dịp lên Sài Gòn đón rước Cậu Ba.

Chiếc xe Ford đang dùng còn tốt, nhưng trong dịp đặc biệt này, cần sắm xe mới cho khách khứa biết mặt dòng họ Trần Trinh đúng là danh gia vọng tộc. Một ngày trước khi tàu Aramis cập bến Nhà Rồng, ông Hội đồng lên Sài Gòn mướn khách sạn Nam Kỳ trước bồn binh chợ Bến Thành. Ông cùng sốp-phơ tới hãng bán xe hơi ngay ngã tư Charner-Bonard (Nguyễn Huệ – Lê Lợi) chọn xe.

Mấy thằng Tây trong hãng nhìn ông khách có vẻ nhà quê mặc bà ba lục soạn trắng ngã màu phèn, đi giày hàm ếch, ôm cái mo cau căng phồng như là một quái vật hiếm thấy. Bất chấp vẻ khinh khỉnh của mấy thằng Tây, Ông Hội đồng bảo sốp-phơ xem kỹ chiếc xe tốt nhất, ra lịnh cho Tây mở cửa xe cho ông lên ngồi, chạy một vòng cho ông xem máy nổ có êm không. Chừng vừa ý, ông mở mo cau ra đếm tiền. Bọn Tây trố mắt nhìn, cả cọc giấy bộ lư (một trăm đồng). Bấy giờ chúng mới biết ông lão có vẻ nhà quê đó chính là đại điền chủ số một Nam Kỳ lục tỉnh.

Mua xe mới rồi, ông Hội đồng đắc chí bảo sốp-phơ:

– Có thằng con đi học bên Tây nay đã thành tài về nước, phải đi đón nó với chiếc xe nầy mới đúng điệu. Phải không mậy?

Văn phòng hãng tàu Messaferies Maritimes thông báo ngày giờ chiếc Aramis cập bến Sài Gòn. Đúng giờ nầy, bến cảng Nhà Rồng đông nghẹt. Thiên hạ tới đón thân nhân từ Pháp về, Gia đình ông Hội đồng đi hai chiếc xe hơi. Vào quán rượu nhâm nhi trong khi chờ đợi. Trong số những gia đình đi đón người thân trên tàu chạy tuyến đường Marseille – Sài Gòn, cánh ông Hội đồng là xôm trò hơn hết. Thiên hạ kéo tới trầm trồ chiếc xe Huê Kỳ mới xuất xưởng. Mấy hồi còi dài vang lên trên sông Sài Gòn. Chiếc Aramis từ từ rẽ sóng, dáng vóc uy nghi của con tàu vượt đại dương. Sông Sài Gòn, tuy là sông lớn nhưng so với chiếc Aramis thì lại không bao la như đối với các chiếc tàu chạy lục tỉnh.

Tàu cập bến. Thủy thủ buộc đõi, hạ cầu thang. Lần lượt hành khách bước xuống cầu thang bên bến cảng. Từ trên boong, cậu Ba tươi cười đưa tay vẫy chào ông bà Hội đồng, vợ chồng cậu Hai Đinh và các em đang đứng chờ cậu. Mọi người đều thấy rõ là cậu Ba ăn mặc thật sang trọng, đúng thời trang, như họ thấy trên màn bạc trong rạp chiếu bóng. Chừng Cậu Ba xuống bến, mọi người chạy lại bắt tay ôm hun kiểu Tây Đầm. Ông Hội đồng cười tươi rói:

– Mày mập ra, coi oai như Tây. Có cõng về một cô “đầm hái nho” không đó?
Cậu Ba cười khanh khách:

– Con về mình “ên”. Ba không thấy sao mà còn hỏi!

Vậy là ông Hội đồng yên chí lớn. Thằng con cưng của ông khôn “cãi trời”.
Tiếp tục đọc

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

KHU DI TÍCH ĐỒNG NỌC NẠN

Nọc Nạn là tên một con rạch chạy từ lũng Non Vật phía tây bắc xã Phong Thạnh đổ ra kinh xáng Bạc Liêu – Cà Mau ngang quốc lộ I tại km 2215, cánh đồng ven rạch đó về phía đông gọi là đồng Nọc Nạn thuộc ấp 4 xã Phong Thạnh huyện Giá Rai – Minh Hải.

Vị trí

Nọc Nạn nằm về phía tây bắc huyện Giá Rai, cách huyện lỵ khoảng 1.500m đường chim bay, cách quốc lộ I khoảng 800m về phía bắc.
Sự kiện Nọc Nạn năm 1928, là một bằng chứng, chứng minh tính đặc thù của chế độ thực dân cướp nước và bọn quan lại tay sai. Nó đã gây sự căm phẫn trong lòng nhân dân Nam Kỳ, giới ký giả người Việt và nỗi bất bình của người Pháp tiến bộ.

Cuộc đấu tranh nhân dân vùng Nọc Nạn, tuy không lan rộng thành một phong trào đều khắp trong huyện, tỉnh. Nhưng cuộc đấu tranh ấy vừa biểu hiện đặc điểm cuộc đấu tranh của quần chúng nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long và nghĩa khí phóng khoáng của người dân Nam Bộ ở vùng đất mới khai phá.

Khảo tả di tích:

Năm 1928 tại đồng Nọc Nạn nổ ra cuộc quyết chiến đẫm máu giữa những người giữ lúa, giữ đất – anh em ông bà Mười Chúc – chống lại những tên cướp lúa, cướp đất – bọn địa chủ cấu kết với thực dân Pháp. Sự kiện xảy ra trên sân phơi lúa của gia đình ông Mười Chúc. Nay di tích gồm 2 phần: sân phơi lúa và khu mộ ông bà Tám Luông (song thân ông Mười Chúc) – cùng các anh em ông, cách nhau khoảng 300m.
Sân lúa là một khoảnh đất rộng khoảng 600m2 nằm ven rạch Nọc Nạn về phía đông, cách quốc lộ I khoảng 500m. Sân được đắp cao 40cm (so với mặt ruộng) được dùng để cất chòi giữ lúa và sân phơi lúa. Hiện nay sân phơi vẫn còn như nguyên trạng do con cháu của ông Mười Chúc sử dụng cất nhà ở và phơi lúa, chất rơm.

Khu mộ:

Sau khi song thân mất, anh em ông Mười Chúc đắp một nền mộ rộng khoảng 700m2, cao 50cm để an táng và xây nhà mồ. Sau sự kiện Nọc Nạn, những người bị thảm sát được chôn rải rác gần đó. Đến năm 1963 được quy tập về khu mộ những người anh em ông Mười Chúc mất sau này cũng được an táng tại đó.

Khu nhà mồ thờ ông bà Tám Luông rộng 30m2 tường xây cao 1,20m cửa quay về hướng nam được xây bằng gạch thẻ chừa ô khoảng cách 1-1. Tường bao từ mặt đất lên hàng gạch trống được xây kín, cao 40cm, gạch thẻ xây vuông 30×30 – hai bên cổng cách mặt đất 40cm xây táp lô đúc sẵn hình chữ thọ, mỗi cạnh 20cm. Phần trong cùng là bàn thờ có mái che uốn cong đúc bê tông cốt thép 20×20, bệ thờ cách nền 50cm. Bài trí đơn giản, nền được lát gạch bông 20×20 màu đỏ- vàng xen kẽ (đã phai màu). Bên trong tường là hai ngôi mộ ông Tám Luông (phía tây) và bà Tám Luông (phía đông) quay ra hướng cổng (phía nam). Kích thước 2m x 0,8m x 1,05m (hai ngôi mộ bằng nhau) nấm xây tròn là khối hình thang cạnh trên 0,80m, cạnh dưới 1m – mặt trước ghi tên, năm mất. Trang trí xung quanh hoa văn đắp nổi chạy dọc gần 4 đường xung song song. Hai ngôi mộ cách nhau 1,5m.

Ngoài khu nhà mồ, trên nền mồ còn có 7 ngôi mộ xây (1,2,3,4,5,6,7). Một ngôi mộ đất số (5) ( theo vị trí bản vẽ kỹ thuật).

Các di vật trong di tích:

Hiện nay bảo tàng Minh Hải đang lưu giữ ảnh các người bị thảm sát, những người tham gia đấu tranh của bọn địa chủ thực dân cướp đất. Ngoài ra còn có 1 ảnh chân dung các trạng sư biện hộ cho gia đình nạn nhân.

Với bản chất tham lam xảo quyệt – bọn địa chủ tìm cách cướp hơn 50ha đất của gia đình ông Mười Chúc. Thế nhưng ông Tư Tại – anh ông Mười Chúc đã khôn khéo dựa vào luật pháp – mặc dù là luật pháp thực dân để khiếu tố. Sự việc trở nên phức tạp hơn khi Mã Ngân – một địa chủ địa phương không tìm ra cách nào để chiếm đất, kể cả việc làm phái lai giả. Chúng đã nhờ đến hiến binh Pháp dùng vũ lực đến để cướp lúa nhà ông Mười Chúc. Cho đến lúc chúng kéo vào, mặc dù là nông dân ít học, thật thà, anh em ông cũng đủ sáng suốt để ra thương thuyết, tránh bạo động. Cho đến khi tên hiến binh Tournier đánh úp trong ngã xuống , sự chống trả quyết liệt dẫn đến đổ máu của anh em ông Mười Chúc mới nổ ra.

Mặt khác khi tòa án xử, mặc dù bị kết tội bạo loạn chống công quyền thế nhưng được dư luận ủng hộ, kể cả hai trạng sư người Pháp tên là Fevaco và Thcon. Bên cạnh đó, báo chí tiến bộ đều có bài viết bênh vực gia đình ông Mười Chúc đã đòi được đất – Một mảnh đất thấm máu bao nhiêu người thân trong gia đình.

Đến ngày 16 tháng 2 năm 2008, kỷ niệm 80 năm sự kiện Đồng Nọc Nạn (17.2.1928- 17.2.2008), tỉnh Bạc Liêu khánh thành việc trùng tu, mở rộng khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đồng Nọc Nạn tại thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai.

Khu di tích này có diện tích hơn 3 ha, gồm các hạng mục khu mộ gia đình Mười Chức, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện trận đánh giữa gia đình Mười Chức và bọn Tây cướp lúa… với tổng đầu tư trên 8 tỉ đồng. Đây là một trong những sự kiện lập nên những chiến công rất đỗi tự hào, nêu cao tinh thần dũng cảm, khí phách của những nông dân tay lấm chân bùn ở vùng cực Nam Tổ quốc, đứng lên chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn quan lại cường hào. Lễ hội Đồng Nọc Nạn tỉnh Bạc Liêu là hoạt động nằm trong chương trình năm Du lịch Quốc gia Mekong- Cần Thơ 2008 sẽ khai mạc tại Cần Thơ vài ngày tới.

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA XIÊM CÁN

WAT KOM SAKOR PRÊK CHRU

Mặc dù chưa phải là ngôi chùa cổ nhất, nhưng có thể nói, chùa Xiêm Cán là một trong những ngôi chùa Khmer được liệt vào hàng lớn nhất, đẹp nhất và lộng lẫy nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Nam Bộ. Vì lẽ đó, luôn tạo ấn tượng khó quên trong lòng du khách mỗi khi đến tham quan, chiêm bái. Chùa Xiêm Cán nằm cách thị xã Bạc Liêu 7km về hướng Đông Nam, tọa lạc trên một sở đất rộng 50 ngàn mét vuông. Chùa được xây dựng khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, với lối kiến trúc vô cùng độc đáo.

Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt du khách khi đến viếng chùa là cổng chùa. Cổng chùa cách khuôn viên chùa cả 100m, nằm về hướng Đông, với những đường nét, kiến trúc, trang trí hết sức đa dạng. Bên trên được xây hình ba ngọn tháp, mô phỏng theo kiểu kiến trúc Ăng Co. Phía trên có tượng hình rắn nhiều đầu, có nhiều nét chạm trổ, điêu khắc rất công phu.

Du khách sẽ ngỡ ngàng trước một khuôn viên chùa bao la rộng lớn, với nhiều hạng mục, như: chính điện, sa la, mộ tháp,… Khoảng cách giữa các hạng mục này cách nhau cả trăm mét. Một không gian yên tĩnh, bầu trời trong xanh, nắng vàng soi qua kẽ lá, tiếng chim hót văng vẳng từ xa, không khí lại trong lành, không hề nhuốm chút bụi trần… làm cho tâm hồn du khách cảm thấy thư thái lạ thường.

Mỗi hạng mục trong khuôn viên chùa là một công trúc đặc sắc, tiêu biểu cho lối kiến trúc đặc trưng của người Khmer, Nam bộ. Trong đó, nổi lên vẻ đẹp lộng lẫy của gian chính điện, trang nghiêm khoe sắc với trời xanh, nằm ngay trung tâm của khuôn viên, trên nền cao 1,5m, nhiều bậc cấp và có hành lang bao quanh. Bên trong chính điện là hai hàng cột cao to nâng đỡ mái chùa. Mái chùa được cấu trúc thành nhiều tầng lớp chồng lên nhau, tạo ra khoảng không gian cao vút, hòa với đỉnh nhọn như một chóp tháp. Gian chính điện là gian trang trọng nhất và cũng là thiêng liêng nhất, được đặt một tượng Phật rất to ngự trên cao. Gian chính điện này được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết, những nét điêu khắc, các phù điêu và nhiều bức bích họa hết sức sinh động, làm cho ngôi chùa vốn dĩ trang nghiêm lại càng trang nghiêm hơn. Bốn bức tường của ngôi chính điện có trang trí rất nhiều hình vẽ của Đức Phật từ lúc sinh ra cho đến khi nhập cõi Niết Bàn.

Đối diện ngôi chính điện là cột trụ biểu, là hình tượng của con rắn 5 đầu, dùng để thắp nến vào những ngày lễ, ngụ ý rằng giáo lý Phật pháp soi sáng cho nhân loại, giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn đã được thuần hóa và phục thiện.

Còn sa la chính là nơi để các sư sãi nghỉ ngơi và cũng là nhà hội của sư sãi với các tín đồ Phật giáo Khmer. Ở sa la này, cũng có trang trí rất nhiều bức bích họa, hoa văn về công việc và cuộc đời của Đức Phật. Đặc biệt, trong các hạng mục ở đây, du khách sẽ bắt gặp những hàng cột có đắp nổi phù điêu hình các tiên nữ và những quái vật. Theo triết lý của người Khmer ở Nam bộ thì đó chính là những chướng ngại đối với Phật tử trên bước đường tu thành chánh quả.

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Bạc Liêu xưa và nay | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TỊNH XÁ NGỌC LIÊN

Năm 1952, sau những chuyến hành trình hóa độ không mệt mỏi, gót chân du phương của Tổ Sư Mnh Đăng Quang tạm dừng nghỉ, tại tỉnh Bạc Liêu, tại đây, dưới những khu vườn phủ đầy bóng mát, pháp âm vi diệu của Ngài lại vang lên, cảnh tỉnh thế nhân. Ông bà chủ điền Vương Thanh Lâm và Trần Thị Cối, từ chỗ đượic khai tâm ngộ Trí đã phát tâm hiến cúng 2 hecta đất vốn là vườn cây ăn quả đang độ thu hoạch để chư Tăng có nơi an dưỡng, tu học và xương minh giáo pháp. Được sự chứng minh của Tổ Sư, năm 1952. Ngôi tịnh xá Ngọc Liên – toạ lạc tại số 43/168 đường Cao Văn Lầu, phường 2 Thị Xã Bạc Liêu, được tạo dựng bằng vật liệu nhẹ, cây ván đơn sơ theo đúng bản hoài của Ngài, trở thành điểm tựa tâm linh cho nhiều thế hệ cư gia bá tánh quay về qui ngưỡng. Tịnh xá hiện do Thượng Toạ Thích Giác Thời và Thượng Toạ Thích Giác Định trị sự, chăm lo Phật sự.

Trong hơn 50 năm hiện diện, tịnh xá đã trải qua 2 đợt trùng tu vào các năm 1973 và 2002, với lối kiến túc hìunh bát giác truyền thống. Chánh điện được mở rộng nhưng vẫn mang dáng dấp thanh thoát, giữa cảnh trí u nhàn thanh tịnh, bên những bồn hoa, luống cỏ được chăm sóc cẩn thận, những chiếc am cốc mộc mạc bằng cây lá khiêm tốn nép mình dưới những tàn cây, tạo nên một không gian hài hoà thấm đẫm thiền vị. Là một trong nhiều ngôi đạo tràng có vinh dự được in dấu chân Tổ Thầy. Tịnh xá Ngọc LIên còn được một thắng duyên trong Phật pháp, khi Trưởng Lão Giác Chánh chọn làm nơi tịnh dưỡng tham thiền trong hơn 10 năm (1991 – 2002).Tịnh xá Ngọc Liên hiện nay đã được xây dựng với lối kiến trúc kết hợp hài hoà giữa hiện tại và cổ xưa theo truyền thống , xứng đáng là một trong nhiều di tích của Tổ Sư, ghi dấu thời kỳ khai tông lập giáo.

Tháng Tư 19, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?