Helenkhanhvy's Blog

Just another WordPress.com weblog

ĐỒNG HỒ ĐÁ

Ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Bạc Liêu hiện vẫn còn lưu giữ được chiếc đồng hồ đá của nhà bác vật đầu tiên của Việt Nam, ông Lưu Văn Lang. Người ta kể lại rằng chiếc đồng hồ này được ông Lang làm tặng cho tỉnh trưởng tỉnh Bạc Liêu trong thời Pháp thuộc, vào đầu thế kỷ XX.

Đồng hồ rất đặc biệt, được xây bằng gạch và xi-măng, không dùng bất kỳ máy móc nào, được đặt hướng về phía Đông ở trước dinh Tỉnh trưởng. Trên bề mặt đồng hồ kẻ 12 chữ số La Mã, phân định đều nhau; giữa mặt đồng hồ xây một cái gờ nhô lên. Cái gờ này giới hạn ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào các con số. Phần ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào có màu tối, phần còn lại có màu sáng rõ hơn (do mặt trời trực tiếp chiếu). Nơi tiếp giáp giữa hai màu đó là điểm giờ trong ngày. Sáng sớm, mặt trời vừa mọc thì dọi ngay số 7; mặt trời dần cao đến độ nào thì bóng rọi dần lên các con số chỉ giờ, cho đến khi đứng bóng thì chỉ đúng số 12. Trời trở về chiều, bóng lại nghiêng theo đúng thứ tự thời khắc. Đến khi bóng hạ dần tới bậc tam cấp thấp nhất thì mặt trời đã lặn. So với đồng hồ ngày nay, đồng hồ đá chỉ sai lệch độ 5 phút. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể ông Lang đã theo cách thức của đồng hồ Thái Dương (loại đồng hồ làm bằng những dụng cụ thô sơ xuất hiện từ thủa xa xưa) để tạo nên chiếc đồng hồ đá độc đáo này.

Di vật chiếc đồng hồ đá gợi nhớ lại cuộc đời của một nhà bác vật lớn của Nam bộ. Ông Lưu Văn Lang sinh ngày 5-6-1880 (mất ngày 3-8-1969), tại làng Tân Phú Đông, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Ông được tiếp thu nhiều nền văn hóa khác nhau khi thủa nhỏ được học chữ nho, đến 10 tuổi học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Do có trí thông minh thiên phú, ông Lang được cấp học bổng lên Sài Gòn học trường Tây Chasseloup Laubat và năm 17 tuổi thi đậu tú tài 2 của Pháp với số điểm xuất sắc, được học bổng sang Pháp học École Centrale de Paris, nơi đào tạo kỹ sư lớn nhất nước này. Năm 1904, ông tốt nghiệp kỹ sư hạng ưu (đứng thứ 3 trong số 250 người!) và được coi là kỹ sư đầu tiên của Nam bộ lúc bấy giờ, mà người Đồng bằng sông Cửu Long quen gọi là bác vật. Sau khi ông Lang về nước, nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam liền cử ông qua tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để tham gia xây dựng tuyến đường xe lửa nối liền Trung Quốc với Đông Dương.

Từ 1909-1940, ông làm việc ở Sở Công chánh Sài Gòn, nổi tiếng tài giỏi và rất liêm khiết. Trong khoảng thời gian này, ông Lang nhiều lần được điều về công tác ở Bạc Liêu, để theo dõi các công trình xây dựng ở đây và để lại một giai thoại thú vị: Khi ông Lang xuống Bạc Liêu thì công trình xây cầu Long Thạnh do Pháp xây dựng sắp xong. Ông Lang lấy cây gậy khõ vào thành cầu rồi khẳng định với viên kỹ sư Pháp rằng một tháng nữa cầu sẽ sập (có người bảo ông còn nói chính xác cả giờ cầu sập). Quá bất ngờ, viên kỹ sư Pháp phẫn nộ, nhưng rồi cũng phải bái phục kỹ sư người Việt bởi quả nhiên chiếc cầu sập sau đó đúng 1 tháng. Từ đó, người dân ở đây gọi chiếc cầu Long Thạnh là Cầu Sập cho đến tận bây giờ. Tỉnh trưởng người Pháp ở Bạc Liêu thời đó rất khâm phục tài năng của ông Lang và đối đãi rất hậu. Đáp lại tình cảm đó, ông Lang đã làm chiếc đồng hồ đá kể trên để làm quà tặng.

Năm 1994, việc xây dựng các ngôi nhà cao tầng xung quanh khiến chiếc đồng hồ đá hơi bị vênh. Bảo tàng Bạc Liêu đã cho kích lại để đảm bảo tính chính xác của nó. Giờ đây, chiếc đồng hồ đá hoạt động gần như chuẩn với hồi mới xây dựng. Thỉnh thoảng, sinh viên ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Bạc Liêu có làm “vệ sinh” cho đồng hồ bằng cách cạo rêu và sơn lại các con số. Tuy nhiên, do cây cối xung quanh quá nhiều nên ánh sáng mặt trời khó len vào được chiếc đồng hồ đá trong khi nó chỉ phát huy tác dụng khi có ánh nắng mặt trời. Thiết nghĩ Bảo tàng Bạc Liêu nên khắc phục khuyết điểm này và ngành du lịch địa phương nên đưa chiếc đồng hồ đá này vào tua tham quan du lịch để giới thiệu một dụng cụ xem giờ có một không hai ở nước ta.

Advertisements

Tháng Năm 3, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA ÔNG

CHÙA QUAN THÁNH – CHÙA QUAN ĐẾ

Chùa tọa lạc tại phường 2, TXBL. Được xây dựng năm 1835, theo kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Quan Thánh cổ miếu thờ Quan thánh Đế Quân, tức Quan Vân Trường thời Tam Quốc nên người địa phương thường gọi một cách tôn kính là Chùa Ông. Trong chánh điện có Quan Công, Quan Bình và Châu Xương mặc giáp trụ uy nghi. Người Hoa thờ Ông tượng trưng cho tinh thần “trung, hiếu, tín, nghĩa”. Người Hoa thường đến chùa Ông cầu xin Ông phù hộ phước lộc, bình an, may mắn. Hiện nay, chùa còn giữ rất nhiều hoành phi, câu đối chạm nổi chữ Hán sơn son thiếp vàng, giá binh khí thập bát ban võ nghệ bằng gỗ quý đen tuyền.

Tháng Tư 21, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

CHÙA GHÔSITARAM

Từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 năm 2010, tại chùa Ghôsitaram đã diễn ra lễ kiết giới sima (khánh thành) ngôi chánh điện chùa Khmer lớn nhất Việt Nam. Ngôi chùa tọa lạc tại ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu – cách thị xã Bạc Liêu không đầy 5km về phía Đông

Tại lễ khánh thành, chùa Ghôsitaram đã đón tiếp hàng chục ngàn lượt khách tham quan, cầu phước, cúng dường. Cả ngày lẫn đêm, từng dòng người từ khắp nơi trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn tiếp tục đổ về chùa Ghôsitaram để tận mắt chiêm ngưỡng ngôi chánh điện đẹp nhất khu vực Nam Bộ và chứng kiến lễ kiết giới có ý nghĩa thiêng liêng do nhà chùa tổ chức. Đại diện hơn 200 chùa Khmer trong khu vực ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ là khách mời dự lễ hội này.

Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, chánh điện là công trình thiêng liêng, là ngôi nhà dùng để thờ phụng đức Phật nằm ở trung tâm chùa, quay mặt hướng đông. Trong hầu hết các ngôi nhà trong chùa thì chánh điện là công trình kiến trúc đặc sắc và nổi bật nhất. Với đồng bào Khmer, đến chùa không chỉ để chiêm ngưỡng nét đẹp lộng lẫy của công trình chánh điện mà quan trọng hơn là họ được cúng dường, cầu may, tích phước tại lễ kiết giới ít có trong mỗi đời người.

Thượng tọa Trang Phương Thanh, Phó trụ trì chùa Ghôsitaram cho biết:

Ngôi chánh điện đầu tiên của chùa được xây dựng vào năm 1860, do Hòa thượng Hao Ny đặt viên đá đầu tiên xây dựng và chính ngài là vị trụ trì đầu tiên của chùa.

Đến năm 2000, ngôi chánh điện ấy đã không còn an toàn cho việc sinh hoạt lễ hội Phật giáo. Ngày 11/11/2001, chánh điện chính thức được khởi công xây mới trên diện tích 427,5m2 với chiều cao 36,3m.

Cùng với xây dựng chánh điện, tín đồ, phật tử của chùa cũng quyết tâm xây thêm các công trình phụ khác gồm: đôi cột phướng, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, nhà để ghe ngo… với tổng tiền đầu tư trên 10 tỷ đồng.

Kết quả của sự thành công này là sự nỗ lực to lớn của các nhà sư, tín đồ phật tử của chùa đã bỏ nhiều công sức, mồ hôi, của cải. Sự thành công đó bao gồm nhiều yếu tố cộng lại trong quãng thời gian gần 10 năm trời.

Toàn bộ công trình được xây dựng theo kiến trúc cổ kính kết hợp hài hòa với kiến trúc hiện đại, mang tính hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc. Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc.

Bên ngoài và phía trong được điêu khắc tỷ mỷ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam Tạng Kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ và đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Nghệ nhân Danh Sà Rinh cho biết: “Để chạm trổ hoàn thành tất cả đường nét, hoa văn nghệ thuật cho ngôi chánh điện này, chúng tôi đã bỏ thời gian khoảng 4 năm ròng”. Theo ban quản trị chùa, kinh phí xây dựng chánh điện và các công trình phụ sử dụng từ nguồn vốn của chùa, của các nhà hảo tâm và vốn hỗ trợ của Đảng, Nhà nước.

Nhắc tới chùa Ghôsitaram, người ta không chỉ nghĩ đến các giá trị nghệ thuật thể hiện qua mỗi công trình mà ở đó còn là cái nôi của phong trào tu học trong giới sư sãi. Ngay từ những năm đầu 1980, chùa Ghôsitaram đã trở thành “trường chùa” đầu tiên của tỉnh dưới sự gây dựng của Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì chùa. Cũng chính nơi đây đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh trong tỉnh và khu vực đang nối gót nhau cống hiến xã hội. Vì nhà chùa không chỉ là địa chỉ tu học, rèn đức luyện tài cho giới nhà sư mà có cả các lớp học bổ túc văn hoá cấp THCS, THPT đặt dưới sự quản lý của Trung tâm GDTX huyện Vĩnh Lợi. Ngoài ra, chùa Ghôsitaram còn là ngôi chùa có số lượng tín đồ trong tỉnh, từ Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Tây Ninh… đến đây tu học đông nhất với khoảng 70-80 vị mỗi năm.

Sự ra đời của ngôi chùa Ghôsitaram đã cho thấy ý nghĩa thiết thực, đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng dân tộc Khmer trong tỉnh và trong vùng. Hiện tại và tương lai, chùa Ghôsitaram vẫn mãi là điểm sáng tô thắm nhiều hơn cho nền văn hóa, cho nét đẹp tín ngưỡng của đồng bào Khmer với phương châm “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”. `

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

KHU DI TÍCH ĐỒNG NỌC NẠN

Nọc Nạn là tên một con rạch chạy từ lũng Non Vật phía tây bắc xã Phong Thạnh đổ ra kinh xáng Bạc Liêu – Cà Mau ngang quốc lộ I tại km 2215, cánh đồng ven rạch đó về phía đông gọi là đồng Nọc Nạn thuộc ấp 4 xã Phong Thạnh huyện Giá Rai – Minh Hải.

Vị trí

Nọc Nạn nằm về phía tây bắc huyện Giá Rai, cách huyện lỵ khoảng 1.500m đường chim bay, cách quốc lộ I khoảng 800m về phía bắc.
Sự kiện Nọc Nạn năm 1928, là một bằng chứng, chứng minh tính đặc thù của chế độ thực dân cướp nước và bọn quan lại tay sai. Nó đã gây sự căm phẫn trong lòng nhân dân Nam Kỳ, giới ký giả người Việt và nỗi bất bình của người Pháp tiến bộ.

Cuộc đấu tranh nhân dân vùng Nọc Nạn, tuy không lan rộng thành một phong trào đều khắp trong huyện, tỉnh. Nhưng cuộc đấu tranh ấy vừa biểu hiện đặc điểm cuộc đấu tranh của quần chúng nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long và nghĩa khí phóng khoáng của người dân Nam Bộ ở vùng đất mới khai phá.

Khảo tả di tích:

Năm 1928 tại đồng Nọc Nạn nổ ra cuộc quyết chiến đẫm máu giữa những người giữ lúa, giữ đất – anh em ông bà Mười Chúc – chống lại những tên cướp lúa, cướp đất – bọn địa chủ cấu kết với thực dân Pháp. Sự kiện xảy ra trên sân phơi lúa của gia đình ông Mười Chúc. Nay di tích gồm 2 phần: sân phơi lúa và khu mộ ông bà Tám Luông (song thân ông Mười Chúc) – cùng các anh em ông, cách nhau khoảng 300m.
Sân lúa là một khoảnh đất rộng khoảng 600m2 nằm ven rạch Nọc Nạn về phía đông, cách quốc lộ I khoảng 500m. Sân được đắp cao 40cm (so với mặt ruộng) được dùng để cất chòi giữ lúa và sân phơi lúa. Hiện nay sân phơi vẫn còn như nguyên trạng do con cháu của ông Mười Chúc sử dụng cất nhà ở và phơi lúa, chất rơm.

Khu mộ:

Sau khi song thân mất, anh em ông Mười Chúc đắp một nền mộ rộng khoảng 700m2, cao 50cm để an táng và xây nhà mồ. Sau sự kiện Nọc Nạn, những người bị thảm sát được chôn rải rác gần đó. Đến năm 1963 được quy tập về khu mộ những người anh em ông Mười Chúc mất sau này cũng được an táng tại đó.

Khu nhà mồ thờ ông bà Tám Luông rộng 30m2 tường xây cao 1,20m cửa quay về hướng nam được xây bằng gạch thẻ chừa ô khoảng cách 1-1. Tường bao từ mặt đất lên hàng gạch trống được xây kín, cao 40cm, gạch thẻ xây vuông 30×30 – hai bên cổng cách mặt đất 40cm xây táp lô đúc sẵn hình chữ thọ, mỗi cạnh 20cm. Phần trong cùng là bàn thờ có mái che uốn cong đúc bê tông cốt thép 20×20, bệ thờ cách nền 50cm. Bài trí đơn giản, nền được lát gạch bông 20×20 màu đỏ- vàng xen kẽ (đã phai màu). Bên trong tường là hai ngôi mộ ông Tám Luông (phía tây) và bà Tám Luông (phía đông) quay ra hướng cổng (phía nam). Kích thước 2m x 0,8m x 1,05m (hai ngôi mộ bằng nhau) nấm xây tròn là khối hình thang cạnh trên 0,80m, cạnh dưới 1m – mặt trước ghi tên, năm mất. Trang trí xung quanh hoa văn đắp nổi chạy dọc gần 4 đường xung song song. Hai ngôi mộ cách nhau 1,5m.

Ngoài khu nhà mồ, trên nền mồ còn có 7 ngôi mộ xây (1,2,3,4,5,6,7). Một ngôi mộ đất số (5) ( theo vị trí bản vẽ kỹ thuật).

Các di vật trong di tích:

Hiện nay bảo tàng Minh Hải đang lưu giữ ảnh các người bị thảm sát, những người tham gia đấu tranh của bọn địa chủ thực dân cướp đất. Ngoài ra còn có 1 ảnh chân dung các trạng sư biện hộ cho gia đình nạn nhân.

Với bản chất tham lam xảo quyệt – bọn địa chủ tìm cách cướp hơn 50ha đất của gia đình ông Mười Chúc. Thế nhưng ông Tư Tại – anh ông Mười Chúc đã khôn khéo dựa vào luật pháp – mặc dù là luật pháp thực dân để khiếu tố. Sự việc trở nên phức tạp hơn khi Mã Ngân – một địa chủ địa phương không tìm ra cách nào để chiếm đất, kể cả việc làm phái lai giả. Chúng đã nhờ đến hiến binh Pháp dùng vũ lực đến để cướp lúa nhà ông Mười Chúc. Cho đến lúc chúng kéo vào, mặc dù là nông dân ít học, thật thà, anh em ông cũng đủ sáng suốt để ra thương thuyết, tránh bạo động. Cho đến khi tên hiến binh Tournier đánh úp trong ngã xuống , sự chống trả quyết liệt dẫn đến đổ máu của anh em ông Mười Chúc mới nổ ra.

Mặt khác khi tòa án xử, mặc dù bị kết tội bạo loạn chống công quyền thế nhưng được dư luận ủng hộ, kể cả hai trạng sư người Pháp tên là Fevaco và Thcon. Bên cạnh đó, báo chí tiến bộ đều có bài viết bênh vực gia đình ông Mười Chúc đã đòi được đất – Một mảnh đất thấm máu bao nhiêu người thân trong gia đình.

Đến ngày 16 tháng 2 năm 2008, kỷ niệm 80 năm sự kiện Đồng Nọc Nạn (17.2.1928- 17.2.2008), tỉnh Bạc Liêu khánh thành việc trùng tu, mở rộng khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đồng Nọc Nạn tại thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai.

Khu di tích này có diện tích hơn 3 ha, gồm các hạng mục khu mộ gia đình Mười Chức, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện trận đánh giữa gia đình Mười Chức và bọn Tây cướp lúa… với tổng đầu tư trên 8 tỉ đồng. Đây là một trong những sự kiện lập nên những chiến công rất đỗi tự hào, nêu cao tinh thần dũng cảm, khí phách của những nông dân tay lấm chân bùn ở vùng cực Nam Tổ quốc, đứng lên chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn quan lại cường hào. Lễ hội Đồng Nọc Nạn tỉnh Bạc Liêu là hoạt động nằm trong chương trình năm Du lịch Quốc gia Mekong- Cần Thơ 2008 sẽ khai mạc tại Cần Thơ vài ngày tới.

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TỊNH XÁ NGỌC LIÊN

Năm 1952, sau những chuyến hành trình hóa độ không mệt mỏi, gót chân du phương của Tổ Sư Mnh Đăng Quang tạm dừng nghỉ, tại tỉnh Bạc Liêu, tại đây, dưới những khu vườn phủ đầy bóng mát, pháp âm vi diệu của Ngài lại vang lên, cảnh tỉnh thế nhân. Ông bà chủ điền Vương Thanh Lâm và Trần Thị Cối, từ chỗ đượic khai tâm ngộ Trí đã phát tâm hiến cúng 2 hecta đất vốn là vườn cây ăn quả đang độ thu hoạch để chư Tăng có nơi an dưỡng, tu học và xương minh giáo pháp. Được sự chứng minh của Tổ Sư, năm 1952. Ngôi tịnh xá Ngọc Liên – toạ lạc tại số 43/168 đường Cao Văn Lầu, phường 2 Thị Xã Bạc Liêu, được tạo dựng bằng vật liệu nhẹ, cây ván đơn sơ theo đúng bản hoài của Ngài, trở thành điểm tựa tâm linh cho nhiều thế hệ cư gia bá tánh quay về qui ngưỡng. Tịnh xá hiện do Thượng Toạ Thích Giác Thời và Thượng Toạ Thích Giác Định trị sự, chăm lo Phật sự.

Trong hơn 50 năm hiện diện, tịnh xá đã trải qua 2 đợt trùng tu vào các năm 1973 và 2002, với lối kiến túc hìunh bát giác truyền thống. Chánh điện được mở rộng nhưng vẫn mang dáng dấp thanh thoát, giữa cảnh trí u nhàn thanh tịnh, bên những bồn hoa, luống cỏ được chăm sóc cẩn thận, những chiếc am cốc mộc mạc bằng cây lá khiêm tốn nép mình dưới những tàn cây, tạo nên một không gian hài hoà thấm đẫm thiền vị. Là một trong nhiều ngôi đạo tràng có vinh dự được in dấu chân Tổ Thầy. Tịnh xá Ngọc LIên còn được một thắng duyên trong Phật pháp, khi Trưởng Lão Giác Chánh chọn làm nơi tịnh dưỡng tham thiền trong hơn 10 năm (1991 – 2002).Tịnh xá Ngọc Liên hiện nay đã được xây dựng với lối kiến trúc kết hợp hài hoà giữa hiện tại và cổ xưa theo truyền thống , xứng đáng là một trong nhiều di tích của Tổ Sư, ghi dấu thời kỳ khai tông lập giáo.

Tháng Tư 19, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHÀ THỜ TẮC SẬY

MỘT SỐ HÌNH ẢNH NHÀ THỜ TẮC SẬY

Tiếp tục đọc

Tháng Tư 19, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

PHƯỚC ĐỨC CỔ MIẾU

HAY CÒN GỌI LÀ CHÙA BANG

Di tích Phước Đức cổ miếu tọa lạc tại số 74 Điện Biên Phủ, Phường 3, Thị xã Bạc Liêu. Đây là ngôi miếu lâu đời nhất của người Hoa sống ở Bạc Liêu, nó được một nhóm người Hoa xây dựng vào khoảng năm 1810, bàn thờ chính là thờ Ông Bổn – Một vị thần được coi là có công khai hoang đất đai và phù trợ cho mọi người sinh cơ lập nghiệp có cuộc sống an lành.

Đến với Phước Đức cổ miếu các bạn sẽ tận mắt thấy dược kiến trúc đặc biệt theo cấu trúc của người Hoa cổ. Toàn bộ ngôi miếu là một kiến trúc nghệ thuật qui mô và hoàn mỹ từ đầu kèo, đầu xiên cho đến các linh thú và hoa văn trên các khánh thờ đều được chạm khắc tinh tế. Phải nói rằng mỗi bộ phận trong miếu là một cổ vật có giá trị nghệ thuật cao bởi chúng đã tồn tại trên 100 năm. Những tấm biển bằng đá cũng như bằng gỗ khắc chữ Hán và mạ vàng cũng là những tác phẩm có giá trị được khắc sắc xảo theo lối viết Hành thư và Khải thư trong uy nghiệm và hùng mạnh.

Các tác phẩm nghệ thuật ấy đã được các nghệ nhân liên kết với nhau một cách hài hòa và chặt chẽ tạo thành một kiến trúc độc đáo vô song. với giá trị nghệ thuật ấy Phước Đức cổ miếu đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Tháng Tư 19, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHÀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Đây là ngôi biệt thự được xây dựng từ năm 1917, và là ngôi biệt thự to lớn nhất vùng lúc bấy giờ, ngôi biệt thự được cất theo mô típ Pháp, toàn bộ vật liệu dùng để xây dựng ngôi biệt thự được chở từ Pháp sang. Ngôi biệt thự được xây trong khuôn viên gồm vườn hoa, hàng rào bảo vệ, nhà ở chính, nhà bếp, nhà kho và các công trình phụ, hướng nhà được chọn theo phong thủy quay mặt về hướng nam và kênh xáng Bạc Liêu.

Hiện nay nhà Công tử Bạc Liêu tọa lạc tại số 13-15 Điện biên Phủ, phường 3 TX Bạc Liêu. Ngôi biệt thự này thường được gắn với một danh xưng “Công tử Bạc Liêu”, danh xưng đó đã ra đời cùng nhiều giai thoại được mọi người truyền tụng đến ngày nay

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHÀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU


Mặt nhà hướng ra sông Kinh Xáng Bạc Liêu trên đường Điện Biên Phủ


Nơi chứa đồ của gia đình Công tử Bạc Liêu


Khuôn viên trồng hoa, nay được sữa lại nhà hàng của khách sạn Công Tử


Cây dừa của gia đình Công tử

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

THÁP CỔ VĨNH HƯNG

Tháp Vĩnh Hưng là một di tích kiến trúc cổ được xây dựng tại ấp Trung Hưng I, xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu ngày nay.

Theo sự khảo sát của các nhà khảo cổ Pháp vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Tháp này được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên.

Tháp được xây dựng trên một diện tích hơn 1.000 m2. Bình diện chân tháp hình chữ nhật với hai cạnh là 5,6 m và 6,9 m, chiều cao của Tháp còn lại 8,2 m (đỉnh Tháp đã bị sập), cửa Tháp quay về hướng Tây. Toàn bộ ngôi Tháp được xây dựng bằng gạch, chúng được kết dính với nhau bằng một loại keo (có giả thuyết cho rằng keo này được làm từ thực vật).
Những lần khảo sát và thăm dò các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm thuộc nền văn hóa Óc Eo và những tượng đồng – đặc biệt có tượng bốn mặt.

Nhưng lý thú hơn cả là lần khai quật gần đây nhất (3/2002) các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều tượng đồng đặc biệt quí hiếm, bên cạnh đó còn có những tấm ngói còn nguyên vẹn hoa văn. Mặc dù chưa công bố kết quả nhưng những bức tượng ấy các bạn khó tìm thấy ở đâu đó được cho dù trong những quyển sách nói về tượng cổ.

Di tích này đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hóa vào năm 1992 và dự án trùng tu, tôn tạo di tích này đã được bắt đầu thực hiện. Dự án ấy đã được mở đầu bằng cuộc khai quật đầu năm 2002 và sẽ kết thúc dự án bằng phòng trưng bày các hiện vật, tư liệu liên quan đến Tháp cổ này.

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

ĐỀN THỜ BÁC HỒ

Ngày 3/9/1969 toàn thể nhân dân Việt Nam bị bao trùm trong buồn đau không kìm được nước mắt vì nhận được tin vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh đã từ trần. Hồ Chủ tịch mất đi là một tổn thất vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam và cả nhân loại tiến bộ trên Thế giới.

Để tỏ tấm lòng kính trọng và thương tiếc Người, sau tang lễ Huyện ủy huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) đã chỉ đạo và phát động nhân dân trong toàn huyện xây dựng Đền thờ Bác. Địa điểm xây dựng ở ấp Bà Chăng A – Xã Châu Thới – Huyện Vĩnh Lợi.

Tháng 3 năm 1970 Xã ủy Châu Thới thực hiện chủ trương của Huyện ủy Vĩnh Lợi tiến hành xây dựng Đền thờ Bác. Mặc dù bị địch đốt phá hai lần nhưng nhân dân cũng như Xã ủy Châu Thới và Huyện ủy Vĩnh Lợi vẫn quyết tâm xây dựng bằng được Đền thờ Bác và lần này quyết không để địch phá hoại. Xã ủy Châu Thới lập ra ban xây dựng và ban bảo vệ trong lúc xây dựng và sau khi xây xong, lần này xây dựng kiên cố bằng xi măng, cốt sắt.

Công việc mua vật liệu để xây dựng gặp nhiều khó khăn do phải đi qua nhiều đồn bót của địch, nhưng với tấm lòng yêu thương Bác nhân dân xã Châu Thới xung phong đi mua vật liệu, mỗi người mua một ít, mua làm nhiều lần. Khi đã chuẩn bị xong, lúc 10 giờ sáng ngày 25/4/1972 Xã ủy Châu Thới đã làm Lễ khởi công xây dựng Đền thờ Bác. Sau 24 ngày đêm không ngại đạn pháo của địch, nhân dân và Xã ủy Châu Thới đã hoàn thành việc xây dựng Đền thờ.

Sáng ngày 19/5/1972 (ngay ngày sinh nhật Bác) Lễ khánh thành Đền thờ Bác được tiến hành trong niềm hân hoan và trang nghiêm của trên một ngàn người trong Xã Châu Thới và các chiến sĩ huyện Vĩnh Lợi.

Từ lúc xây dựng xong cho đến ngày thống nhất đất nước (30/4/1975) Đền thờ Bác luôn là mục tiêu bắn phá của Địch. Mặc dù địch dùng những phương tiện và vũ khí hiện đại mở nhiều đợt tấn công đánh phá Đền thờ, nhưng lần nào chúng cũng nếm mùi thất bại trước tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân dân xã Châu Thới, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để cho Đền thờ không bị vết đạn nào tàn phá. Có những tiểu đoàn của địch bị tập kích đánh úp khi chúng có ý định tấn công Đền thờ Bác.

Đến với di tích này bạn sẽ thấy được tinh thần anh dũng và sự mưu trí của quân dân Châu Thới, cũng như nhân dân Bạc Liêu nói chung thông qua những hiện vật được trưng bày tại di tích, bạn sẽ gặp được những chiến sĩ đã từng không tiếc sinh mạng mình để bảo vệ Đền thờ, và họ vẫn tiếp tục quãng đời còn lại của mình bảo vệ Đền thờ Bác.

Sau ngày giải phóng đến nay Đền thờ thường xuyên là địa điểm để tổ chức những hoạt động xã hội, là nơi họp mặt những ngày truyền thống. Năm 1998, Đền thờ Bác đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hóa.

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Danh lam - thắng cảnh - điểm du lịch | Bạn nghĩ gì về bài viết này?