Helenkhanhvy's Blog

Just another WordPress.com weblog

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

TỪ PARIS CẬU BA ĐIỆN SẼ ĐIỆN VỀ THÁNG TỚI
Xứ Bạc Liêu – Ông Hội đồng đổi mới cửa nhà

Mấy ngày nay, Nhà Lớn thật là rộn rịp. Nhà Lớn là tên thiện hạ đặt cho tòa nhà nguy nga nằm dọc bờ sông Bạc Liêu, cách cầu Quay vài trăm thước. Đây là biệt thự lầu, kiến trúc tối tân, cất theo kiểu nhà Tây trên Sài Gòn. Ai đi ngang qua cũng phải ngắm nhìn và trầm trồ khen đẹp. Tòa nhà này làm cho các tham biện chủ tỉnh Tây cũng phải ganh tỵ so với dinh chủ tỉnh, nó chỉ thua về diện tích, nhưng ăn đứt hình dáng bên ngoài và trang trí nội thất bên trong. Đây là nhà của ông Hội đồng Trạch, đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu. Mấy tiếng “đại điền chủ số một trong tỉnh Bạc Liêu” chưa giúp các bạn hình dung được cơ nghiệp của ông Hội đồng, cần giở sổ bộ điền đất để có vài con số cụ thể.

Mười lăm đại điền chủ đứng đầu trong tỉnh Bạc Liêu là vài người Việt Nam bên cạnh đa số là người Tàu và tám người Pháp. Hội đồng Trạch – Trần Trinh Trạch – chiếm số một với 110000 mẫu ruộng và nhiều sở ruộng muối nữa. Đứng số 2 là Vưu Tung với 75000 mẫu ruộng, Châu Oai đứng hạng ba với 40000 mẫu, Cao Triều Phát, lãnh tụ Cao Đài đứng hạng tư trước Hùynh Hữu Phước, kế tới Quách Ngọc Đống. Tám chủ điền Tây xếp hành ở sau với những tên Humelin, Grégoira, Gressier, Éméry…

Nhà Lớn rộn rịp về bức điện Cậu Ba từ Paris đánh về. Cậu Ba cho biết cậu đã “thành tài” và đang đáp tàu về nước. Chiếc Aramis sẽ cập bến Nhà Rồng vào tuần tới đây. Ông Hội đồng giở lịch xem ngày: còn đúng một tuần nữa thằng con cưng của ông sẽ về. Phải sửa soạn lên Sài Gòn rước nó. Rồi phải làm tiệc tùng trước cúng kiếng ông bà đã phù hộ nó đi tới nơi về tới chốn, học hành đỗ đạt làm rạng rỡ ông bà cha mẹ, sau đãi đằng bà con và các vị tai mắt trong tỉnh để họ biết dòng họ Trần Trinh Trạch xứng đáng là danh gia vọng tộc.

Hội đồng Trạch có ba người con trai nhưng chỉ cưng nhất nhà là cậu Ba. Tại sao? Cậu Hai – Trần Trinh Đinh gọi là cậu Hai Đinh. Cậu Ba tên Trần Trinh Qui, gọi là Ba Qui. Ông Trạch khoái đặt tên con theo giống thủy tộc vì ông là Trạch, con ông phải là cua đinh, rùa (qui). Đứa con trai út cũng mang tên một loài sống dưới nước nhưng lại được gọi là cậu Tám Bò vì thói quen bò xuống lầu để đi la cà tán gái trong đêm. Cậu Hai Đinh học hành cũng khá, đậu Đíp lôm rồi học ban tú tài nhưng ông hội đông gọi về trông coi điền đất giúp ông. Theo ông thì “dân cậu” chỉ cần học tới đó thôi, miễn đủ sức nói tiếng Tây giòn rụm như bẻ củi cho mấy thằng Tây trọng nể là được rồi. Học nhiều, dẫu kỹ sư, bác sỹ cũng kiếm tiền không nhiều bằng mấy ông chủ điền. Cậu Hai Đinh nghe lời ông Hội đồng bỏ học về trông coi điền đất, Cậu sớm thấy làm chủ điền không nhàn như thiên hạ nghĩ, bởi vì đến mùa, phải đấu trí ác liệt với đám “chủ chành”. Chủ chành là những người Tàu chuyên mua lúa gạo các tỉnh miền Tây, chở ghe chài lên Chợ Lớn bán, Mua rẻ bán mắc là nghề của chủ chàn. Bán hớ một chút là mất bạc ngàn bạc muôn. Cho nên phải cho người thân tín dòm ngó đám “chệt chành” lân la vô đất điền gạ tá điền bán lúa non. Đó là thủ đoạn cho vay tiền để nhà nông mua lúa giống, mua phân, tới mùa phải bán lúa rẻ cho chúng. Do cạnh tranh ráo riết từng ngày từng giờ với “chệt chành” mà cậu Hai Đinh quyết định nhờ tới nàng tiên nâu. Làm vài điếu thuốc phiện là tâm trí minh mẫn lạ thường, tình hình rối ren cách mấy cũng có cách giải quyết thần tình. Cậu Hai sắm bàn đèn, nằm nhà hút chớ không tới các tiệm hút ngoài chợ. Các tiệm này có bộ mặt đặt biệt là cánh cửa gió gắn kính đầy màu lục để lọc ánh sáng bên ngoài. Bước vô trong là lạc vào một thế giới khác hẳn, một thế giới mờ mờ, thơm tho. Các đi-văng gõ mát rượi với những chiếc gối sành cùng màu lục dịu mắt như mời mọc bạn nằm xuống, kéo vài hơi cho tỉnh người sau một ngày vật lộn với đời. Trước cửa tiện có gắn hai chữ RO tức Régie Opium, với nghĩa là công quản thuốc phiện. Hai chữ này đối lập với RA (Régie Alcool: công quản rượu trắng) gắn ở các tiệm bán rượu công xi.

Nhờ hút đầy đủ mà cậu Hai Đinh mập tốt, dáng người bệ vệ, mặt vuông chữ điền, Cậu thích mặc xà rông, chỉ khi nào có khách mới xỏ bộ pyjama vô cho phải phép. Mợ Hai lớn ở riêng. Nhà ở gần Cầu số 3 đường đi Vĩnh Châu. Cậu Hai ở với mợ Hai nhỏ, một thiếu phụ có đời chồng trước là người Miên làm tài xế cho ông hoàng Sihanouk bên Nam Vang. Ngoài ra cậu Hai còn có một cô vợ bé ngưới Cù Lao Giêng xinh đẹp như phần lớn các cô gái miệt vườn.

Nhà cậu Hai cũng rất bề thế ở xóm làng, kế bên có nhà máy xay lớn nhất tỉnh. Cậu Hai đã “an bài” nên ông HỘi đồng dồn hết tâm trí cho cậu Ba Qui.Cậu Ba đậu Đíp lôm rồi, một hai đòi đi Tây. Ông Hội đồng nói:

– Muốn lấy bằng cấp tú tài thì lên Sài Gòn học. Tao xin cho mầy vô trường Tây dễ dàng, Đi qua Tây làm chi cho xa xôi, tốm kém. Cậu Ba cự nự:

– Nhà mình bạc chứa cả kho mà ba hà tiện làm chi ba? Để cho con một bụng chữ còn hơn là để mấy chục ngàn mẫu ruộng. Học Chasseloup trên Sài Gòn thì thường quá! Có gì đáng hãnh diện đâu ba? Nếu ba cho con qua Tây học thì thiên hạ khắp nơi trong xứ Nam Kỳ lục tỉnh nầy ai cũng kính nể ba. Chừng con học thành tài, con kéo về một cô vợ đầm thì dòng họ Trần Trinh mình vang danh bốn biển!

Ông Hội đồng giẩy nẩy:

– Chớ có làm xằng! Muốn đi Tây thì tao cho đi Tây, mà cấm ngặt mầy không được cưới vợ đầm, Tao với má mầy chữ nghĩa không đầy lá mít, làm sao nói chuyện với con dâu “đầm hái nho” được?

Cậu Ba muốn gì được nấy, vui vẻ nói:

– Ba chịu cho con đi Tây rồi phải không? Còn chuyện lấy đàm làm vợ thì ba yên chí lớn đi! Con không dại như mấy cha trạng sư, bác vật võng về mấy bà vợ “đầm hái nho” đâu! Ba biết tại sao họ cưới vợ đầm mà xấu như ma lem không? Có gì khó hiểu đâu! Các cha đó vốn là học trò khó, kiếm tiền đóng học phí, trả tiền nhà trọ là cạn túi. Đâu có dư tiền để đi chơi bời ở các nhà hàng. Cho nên sẵn mấy cô bồi phòng, tha hồ ma chọc ghẹo, mà trai gái. Mấy con bồi phòng này là dân nhà quê lên Kinh thành Ánh Sáng để kiếm việc là, vừa nhẹ nhàng, vừa văn minh, vớ được các ông cử nhân tấn sĩ An Nam, dễ dầu gì các nàng buông tha. Vậy là các trạng sư bác vật “dính chấu”…

Ông Hội đồng cười hả hê. Ông hài lòng có thằng con thông minh hơn người. Nó biết nói như vậy thì ông yên chí lớn.

Thấm thoắt mà đã ba năm. Cậu Ba đã “thành tài” và sắp trở về “vinh quy bái tổ”. Chỉ còn một tuần nữa thôi. Một mặt ông Hội đồng cho sửa soạn nhà cửa cho trang hoàng đẹp đẽ, một mặt ông sẽ sắm một chiếc xe hơi mới thay chiếc xe cũ nhân dịp lên Sài Gòn đón rước Cậu Ba.

Chiếc xe Ford đang dùng còn tốt, nhưng trong dịp đặc biệt này, cần sắm xe mới cho khách khứa biết mặt dòng họ Trần Trinh đúng là danh gia vọng tộc. Một ngày trước khi tàu Aramis cập bến Nhà Rồng, ông Hội đồng lên Sài Gòn mướn khách sạn Nam Kỳ trước bồn binh chợ Bến Thành. Ông cùng sốp-phơ tới hãng bán xe hơi ngay ngã tư Charner-Bonard (Nguyễn Huệ – Lê Lợi) chọn xe.

Mấy thằng Tây trong hãng nhìn ông khách có vẻ nhà quê mặc bà ba lục soạn trắng ngã màu phèn, đi giày hàm ếch, ôm cái mo cau căng phồng như là một quái vật hiếm thấy. Bất chấp vẻ khinh khỉnh của mấy thằng Tây, Ông Hội đồng bảo sốp-phơ xem kỹ chiếc xe tốt nhất, ra lịnh cho Tây mở cửa xe cho ông lên ngồi, chạy một vòng cho ông xem máy nổ có êm không. Chừng vừa ý, ông mở mo cau ra đếm tiền. Bọn Tây trố mắt nhìn, cả cọc giấy bộ lư (một trăm đồng). Bấy giờ chúng mới biết ông lão có vẻ nhà quê đó chính là đại điền chủ số một Nam Kỳ lục tỉnh.

Mua xe mới rồi, ông Hội đồng đắc chí bảo sốp-phơ:

– Có thằng con đi học bên Tây nay đã thành tài về nước, phải đi đón nó với chiếc xe nầy mới đúng điệu. Phải không mậy?

Văn phòng hãng tàu Messaferies Maritimes thông báo ngày giờ chiếc Aramis cập bến Sài Gòn. Đúng giờ nầy, bến cảng Nhà Rồng đông nghẹt. Thiên hạ tới đón thân nhân từ Pháp về, Gia đình ông Hội đồng đi hai chiếc xe hơi. Vào quán rượu nhâm nhi trong khi chờ đợi. Trong số những gia đình đi đón người thân trên tàu chạy tuyến đường Marseille – Sài Gòn, cánh ông Hội đồng là xôm trò hơn hết. Thiên hạ kéo tới trầm trồ chiếc xe Huê Kỳ mới xuất xưởng. Mấy hồi còi dài vang lên trên sông Sài Gòn. Chiếc Aramis từ từ rẽ sóng, dáng vóc uy nghi của con tàu vượt đại dương. Sông Sài Gòn, tuy là sông lớn nhưng so với chiếc Aramis thì lại không bao la như đối với các chiếc tàu chạy lục tỉnh.

Tàu cập bến. Thủy thủ buộc đõi, hạ cầu thang. Lần lượt hành khách bước xuống cầu thang bên bến cảng. Từ trên boong, cậu Ba tươi cười đưa tay vẫy chào ông bà Hội đồng, vợ chồng cậu Hai Đinh và các em đang đứng chờ cậu. Mọi người đều thấy rõ là cậu Ba ăn mặc thật sang trọng, đúng thời trang, như họ thấy trên màn bạc trong rạp chiếu bóng. Chừng Cậu Ba xuống bến, mọi người chạy lại bắt tay ôm hun kiểu Tây Đầm. Ông Hội đồng cười tươi rói:

– Mày mập ra, coi oai như Tây. Có cõng về một cô “đầm hái nho” không đó?
Cậu Ba cười khanh khách:

– Con về mình “ên”. Ba không thấy sao mà còn hỏi!

Vậy là ông Hội đồng yên chí lớn. Thằng con cưng của ông khôn “cãi trời”.
Tiếp tục đọc

Advertisements

Tháng Tư 20, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

PHAN KIM CÂN

Phan Kim Cân là cháu nội của Bá hộ Bì. Sách “Bạc Liêu xưa và nay” của Huỳnh Minh viết: Người đương thời nhìn nhận rằng trong nhóm công tử Bạc Liêu ai cũng đáng chê, chỉ Phan Kim Cân là đáng khen. Bởi Cân trọng nghĩa khinh tài, ai khó khăn, hoạn nạn Cân đều ra tay giúp đỡ.

Tuy nhiên, Cân cũng không tránh được máu chơi ngông của dòng họ. Một lần, cưỡi ngựa về Vĩnh Hưng chơi, gặp ở bờ sông một cô gái đẹp mê hồn, Cân ngẫn người tới mức buông cả cương ngựa. (Sau này Cân mới biết cô gái đó là con út của Bá hộ Bành Tòng Mậu, một điền chủ lớn trong vùng).

Trấn tĩnh lại, Cân liền quay ngựa về Bạc Liêu, lấy ca nô, xách súng đến bắt cóc cô gái. Nhà Bá hộ Bành Tòng Mậu rượt theo, nhưng không kịp; họ kiện quan, tung tin con gái bị một tên lưu manh cướp. Về sau, người con gái này ở với Phan Kim Cân có con, được Cân hết mực thương yêu, nên gia đình Bá hộ Bành Tòng Mậu cũng nguôi giận.

Tháng Tư 14, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Hắc Công tử và Bạch Công tử với giai thoại đốt tiền: Cả Hắc Công tử và Bạch Công tử đều say m ê nhan sắc của cô Ba Trà (Hoa khôi Nam kỳ). Muốn thi thố chứng tỏ anh hào, mỗi người cân một ký đậu xanh, một ký đường rồi dùng tiền làm củi đốt nấu chè. Những giai thoại như đốt tiền làm đuốc, đốt tiền nấu chè đã tồn tại song hành với danh hiệu Công tử Bạc Liêu 6 – 7 thập niên qua. Nó tồn tại để minh họa cho thói ăn chơi quăng tiền qua cả sổ của Công tử Bạc Liêu

Công tử Bạc Liêu học võ… Xiêm: Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nữa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Công tử Bạc Liêu không học võ Tây hay võ Ta mà họ võ Xiêm (Thái Lan). Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò (em út của ông ta).

Công tử Bạc Liêu thăm ruộng bằng máy bay: Sự kiện thật sự làm chấn động Nam kỳ Lục tỉnh bấy giờ là lúc Trần Trinh Huy đi thăm ruộng bằng máy bay khi mà cả nước Việt nam lúc đó chỉ có hai người mua máy bay đó là Ba Huy và vua Bảo Đại.

Công tử Bạc Liêu ăn chơi ở Sài Gòn: Mỗi lần từ Bạc Liêu đi là ông ta ngồi trên một chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Lưng túi bao giờ cũng đầy ắp giấy bạc bộ lư, bạc con công… Thói quen của Công tử Bạc Liêu khi đi Sài Gòn là ít khi ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng hạng sang ở Sài Gòn. Và sau đó là những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra. Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh và sau đó thì nhảy đầm hoặc rủ nhau đi Đà lạt, đi Cấp… Buồn nữa thì Ba Huy đánh bài, cái máu mê cờ bạc của Ba Huy cũng khá đậm đặc, dám đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng/giạ, lương của Thống đốc Nam kỳ chưa tới 3.000 đồng/tháng.

Công tử Bạc Liêu “vinh quy bái tổ”: Sau ba năm “sôi kinh nấu sử” tại Pháp. Trần gia tổ chức tiệc mừng, người Bạc Liêu đồn rằng còn lớn hơn buổi tiệc tân gia nhà lớn để mừng Ba Huy ăn học thành tài. Mục đích của buổi tiệc là phô trương sự giàu có lẫn quyền uy. Và tất cả đã được khoe mẽ một cách triệt để, duy chỉ có một điều Trần gia không dám khoe là sau đó họ gạn hỏi mới biết được Ba Huy sau ba năm dùi mài học tập ở Pháp quốc đã không mang về cho gia tộc Trần Trinh một học hàm, học vị nào cả. Công tử Bạc Liêu về nước, hành trang của ông ta là kinh nghiệm nhảy đầm, lái xe và một bầu tâm sự ngày đêm thương nhớ cô vợ đầm và đứa con còn gửi nơi kinh thành ánh sáng Paris. Và phải chăng chính cái văn hóa ăn chơi của một nước tiên tiến đã pha trộn dòng máu mê ăn chơi của Ba Huy để rồi nâng tầm vóc ăn chơi của ông ta lên đến đỉnh điểm.

Công tử Bạc Liêu “trấn nhậm” điền Bàu Sàng: Vào thập niên 30, các sở điền mà Trần Trinh Huy thường hay lui tới là Bàu Sàng, Vĩnh Hưng. Tại Bàu Sàng, đời nông dân là những kiếp đời nghèo hèn cơ cực trải ra trên cánh đồng ngập úng lưu niên. Giữa cái không gian quê mùa hiu hắt, xã hội lạc hậu…, Trần Trinh Huy xuất hiện một cách “rực sáng” và xa lạ: Quần tây, áo sơ mi, đội nón nỉ, đi giày da, lưng giắt đồng hồ quả quít Ăng lê… Ba Huy mở lễ hội, ăn chơi kéo dài, tổ chức nhiều trò chơi ta có Tây có, như thí võ đài, các trò chơi dân gian, đặc biệt là “đấu xảo sắc đẹp” và có treo giải thưởng hẳn hoi. Ba Huy lăn xả vào các cuộc chơi chứng tỏ rằng máu ham vui của Công tử Bạc Liêu rất đậm đặc. Chỉ có điều sau những buổi Lễ, những trò chơi nửa Tây nửa ta thì tá điền nghèo lại thêm nghèo và người ngợm thêm đổ đốn. Nói cho công bằng, do tính ham vui, phóng khoáng nên Ba Huy rất rộng rãi. Tá điền không thấy ông đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ ông còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

BÁ HỘ BÌ

Bá hộ Bì tên thật là Phan Hộ Biết, là ông ngoại của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Từ miệt vườn Tiền Giang, Bá hộ Bì về Bạc Liêu khai khoang mở ấp. Sách khẩn hoang miền Nam của nhà văn Sơn Nam ghi: “ Năm 1894 ông Phan Hộ Biết đâm đơn xin lập làng mới tên gọi là Vĩnh Hưng (xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi ngày nay). Dân do ông ta quy tụ về và chịu trách nhiệm đóng thuế thân cho họ. Bá hộ Bì đã bỏ tiền ra xây dựng nhà việc (công sở làng ) trị giá 200 đồng …”.

Bằng cách chiêu mộ lưu dân về cho vay tiền, cho mướn trâu, vay lúa để khai hoang, sau đó mua lại đất của người không trả nổi nợ, Phan Hộ Biết trở thành một đại điền chủ lớn nhất Bạc Liêu.

Con cháu ông ta kể rằng: Bá hộ Bì là chủ sở hữu hầu hết các sở muối từ Gành Hào đến Vĩnh Châu, còn đất ruộng không biết bao nhiêu ngàn mẫu mà kể. – Là một người giỏi tính toán làm ăn, khi Pháp mở thương cảng Sài Gòn, đào xong sông Bạc Liêu; Bá hộ Bì liền sắm một đoàn ghe chài hàng trăm chiếc đi thu mua lúa, muối đưa lên Sài Gòn xuất khẩu. – Lúc này, Bá hộ Bì được mệnh danh là “vua” lúa gạo Nam Kỳ; đến khi người lục tỉnh gọi Bạc Liêu là tỉnh muối thì Bá hộ Bì lại được “phong” là “vua” muối.

Giàu có như thế nên Bá hộ Bì nổi tiếng chơi ngông. Chỉ tính cái “món gái“ thôi, đã làm cho người Bạc Liêu đương thời phải nổi da gà.

Bá hộ Bì có bảy vợ chính thức, ở chung một nhà. Còn nhân tình, nhân ngãi của Bá hộ Bì không biết bao nhiêu mà đếm. Mỗi lần đi thăm điền, Bá hộ Bì đều đi bằng ghe lớn chạm trổ hình long phụng. Trên ghe có sập gụ để uống trà, hút á phiện và dĩ nhiên không thể thiếu buồng the với những cố nhân tình luôn được “đổi mới” trong mỗi chuyến đi.

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TRẦN TRINH ĐINH

Công tử Bạc Liêu có người anh tên Trần Trinh Đinh, sinh năm 1896, không biết mất vào năm nào. Đinh là một người trong bảy anh em của công tử Bạc Liêu, được Trần Trinh Trạch tin tưởng nhất.

Khi miền Nam manh nha nền công nghiệp xay sát lúa gạo thì ông Trạch bỏ ra một số vốn khổng lồ để cất “nhà máy lửa” mang tên Hậu Giang; giao cho Trần Trinh Đinh cai quản….. Đây có thể là một nhà máy lớn nhất Nam Bộ dạo đó, với công suất xay lúa 15 tấn một ngày. Bánh trớn của nó nặng đến 10 tấn, chạy bằng trấu và củi. Nhà máy tọa lạc tại bờ sông thuộc thị xã Bạc Liêu, ống khói của nó vươn cao, đứng xa 10 km còn nhìn thấy.

Là chủ một nhà máy lớn nên Đinh giàu sang nhanh chóng và là tay ăn chơi có hạng. Đinh to con, trông hệt như một tay hảo hớn. Đi đâu Đinh cũng vận xà rong của người Khơ me.Việc vận xà rong này vốn có căn nguyên: Khi đưa gạo sang Nam Vang (Campuchia) bán, giao du với tầng lớp giàu có ở đó, Đinh quen với một tay tài xế xe trong cung vua, có người vợ đẹp mê hồn. Trong một lần Đinh đãi tiệc, tay tài xế mang vợ theo, khiến Đinh bị hút hồn, nhìn mê mải.

Đã quen với cách ăn nói của dân cậu, Đinh ngỏ ý với gã tài xế: “Mày bán vợ cho tao, bao nhiêu tao cũng mua“. Tài xế nổi nóng, nhưng kìm được, thách thức: “20.000 đồng đó, ông có tiền mua không?” (Hồi đó, giá 20 cân thóc chỉ một hào). Tưởng nói cho bõ giận, ai dè Hai Đinh mua thật. Vợ tài xế ở với Trần Trinh Đinh đến cuối đời. Bà vốn là người Khơ me nên Đinh có thói quen vận xà rong là vậy.

Tháng Tư 12, 2010 Posted by | Giai thoại công tử Bạc Liêu | Bạn nghĩ gì về bài viết này?